|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 23/8/2024
Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Thanh Sang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Ngọc Quế
Bà Phạm Hồng Gái
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Lan - Thư ký TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn đất tham phiên tòa: Ông Bùi Đức Mậu – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 226/2024/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QÐST - HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1989 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Anh Trần Minh T, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim P và anh Trần Minh T tự tìm hiểu yêu thương nhau, sau đó được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới vào năm 2013, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02/01/2013. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và thường tranh cãi. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn được. Do đó, chị P yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh T.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim P và anh Trần Minh T có 02 người con chung tên là Trần Quốc M, sinh ngày 07/9/2014 và Trần Quốc V, sinh ngày 19/3/2018 hiện đang ở cùng với chị P. Sau khi ly hôn chị P yêu cầu được nuôi dưỡng người con chung nêu trên đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim P và anh Trần Minh T tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim P và anh Trần Minh T không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Trần Minh T. Tuy nhiên, anh T không đến Tòa án để làm việc và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được lời khai của anh Trần Minh T trong hồ sơ vụ án.
* Ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
2
- Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Kim P được ly hôn với anh Trần Minh T; Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim P được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 người con chung tên là Trần Quốc M, sinh ngày 07/9/2014 và Trần Quốc V, sinh ngày 19/3/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xét. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xét; Về án phí: áp dụng khoản 4 Điều 147 BLTTDS và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chị Nguyễn Thị Kim P phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Trần Minh T. Bị đơn cư trú trên địa bàn huyện H, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Minh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn anh Trần Minh T tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có cơ sở xác định chị Nguyễn Thị Kim P và bị đơn anh Trần Minh T xác lập quan
3
hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, anh chị có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02/01/2013. Như vậy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim P và anh Trần Minh T là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Theo đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị Kim P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Minh T do tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án chị P trình bày cuộc sống vợ chồng anh chị mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi và đã ly thân nhau. Hiện tại, chị P và anh T không liên lạc, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị Nguyễn Thị Kim P đoàn tụ để nuôi dạy con chung đến tuổi trưởng thành nhưng chị P vẫn kiên quyết muốn ly hôn với anh T. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh T nhưng anh T vẫn vắng mặt không đến Tòa án để hòa giải đoàn tụ với chị P. Qua xác minh tại địa phương thì cuộc sống hôn nhân giữa chị P và anh T có mâu thuẫn và hiện đã ly thân nhau. Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ để chứng minh được mối quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không đạt được mục đích. Nên việc chị P xin ly hôn với anh T Hội đồng xét thấy có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim P xác định trong quá trình chung sống với anh Trần Minh T thì anh chị có với nhau 02 người con chung tên là Trần Quốc M, sinh ngày 07/9/2014 và Trần Quốc V, sinh ngày 19/3/2018 hiện đang ở cùng với chị P. Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án chị P yêu cầu được nuôi dưỡng 02 người con chung nêu trên đến tuổi trưởng thành. Xét yêu cầu nuôi con của chị P Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện chị P là người đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu M và cháu V. Đồng thời cháu M trên 07 tuổi cũng có ý kiến được ở với chị P. Hơn nữa, quá trình chung sống với chị P thì cháu M với cháu V được chị P chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống của cháu, giúp các cháu phát triển tốt về mặt thể chất và tinh thần. Hội đồng xét xử giao cháu M và cháu V cho chị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
4
[3.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Kim P trình bày có đủ khả năng để nuôi dưỡng con chung nên không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim P tự thoả thuận với anh Trần Minh T, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[3.5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim P không có nợ ai và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị Kim P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét ý kiến của Đại diện viện kiểm sát có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận trong quá trình nghị án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng các Điều 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Tuyên Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim P về việc ly hôn với anh Trần Minh T.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim P được ly hôn với anh Trần Minh T.
- Về con chung: Giao 02 người con chung tên là Trần Quốc M, sinh ngày 07/9/2014 và Trần Quốc V, sinh ngày 19/3/2018 cho chị Nguyễn Thị Kim P tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Thị Kim P không yêu cầu.
5
Anh Trần Minh T có quyền được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001034 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó chị P không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thanh Sang |
6
7
8
Bản án số 141/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 141/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Giải quyết việc nuôi con
