TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2024/DS-PT Ngày: 23/7/2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Bình
Các Thẩm phán
Ông Nguyễn Văn Nhân
Ông Lê Quang Ninh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thanh Mến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18/7/2024 và ngày 23/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 50/2024/TLPT–DS ngày 03/04/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2020/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
Ông Trần Trung N, sinh năm 1981; (Có mặt)
Bà Dương Thị Thanh T, sinh năm 1981; (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà T: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1942; Địa chỉ: Văn phòng Luật sư D, đường N nối dài, tổ C, khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
* Bị đơn: Bà Trần Thị Mai H, sinh năm 1968 (Đã chết)
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
* Những người kế thừa quyền tố tụng của bà Trần Thị Mai H:
1. Ông Trương Thiên L, sinh năm 1994; (Vắng mặt)
2. Bà Trương Thị Ánh H1, sinh năm 1989; (Vắng mặt)
3. Bà Trương Thị Hồng P, sinh năm 1998; (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền tố tụng của bà Trần Thị Mai H: Ông Tạ Duy V, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị N2, sinh năm 1953; Địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện B, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Mai H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Trung N - Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn N1 trình bày:
Vào ngày 02/11/2005 ông N, bà T đã mua của ông Trương Công H2, bà Trần Thị Mai H diện tích đất 3.802,8m², trong đó có 914m² diện tích đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881/QSDĐ/1484/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày 19/7/2004 đứng tên hộ bà Trần Thị Mai H và một phần nằm dưới đường diện 500kv, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, với số tiền 260.000.000 đồng. Ông N, bà T đã giao đủ tiền cho bà H, ông H2 và ông H2, bà H đã giao toàn bộ diện tích đất nói trên cho ông N, bà T quản lý, sử dụng từ đó đến nay.
Đối với diện tích đất 914m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881/1484/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày 19/7/2004 cho hộ bà Trần Thị Mai H, ông N, bà T đã trồng cây cây ăn trái và quản lý, sử dụng từ trước đến nay nhưng chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Nay bà H dựa vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881/QSDĐ/1484/QĐ-UB để tranh chấp quyền sử dụng đất 914m² với ông N, bà T. Việc bà H dựa vào giấy CNQSDĐ số 881 để tranh chấp là không có căn cứ bởi vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881 nói trên đã được TAND tỉnh Bình Phước kiến nghị UBND huyện Đ thu hồi tại Bản án phúc thẩm số 01/2008/DS-PT ngày 24/10/2008 của TAND tỉnh Bình Phước, ngày 12/11/2009 UBND huyện Đ đã ban hành Thông báo số 269/TB-UBND giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, qua đó nêu rõ: Sau 30 ngày kể từ ngày ra Thông báo 269, bà H hoặc những cá nhân, tổ chức liên quan không giao nộp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881/QSDĐ/1484/QĐ-UB thì UBND huyện Đ ban hành quyết định hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Ông N bà T đã gửi đơn đến UBND xã Đ tiến hành giải quyết nhưng không thành.
Nay ông N, bà T khởi kiện bà Trần Thị Mai H đề nghị TAND huyện Đồng Phú căn cứ Điều 129 Bộ luật dân sự 2015: Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền quyền sử dụng đất diện tích 914m² giữa ông N, bà T với ông H2, bà H.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn bà Trần Thị Mai H và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà H ông Tạ Duy V thống nhất trình bày:
Ngày 02/11/2005 bà H cùng ông Trương Công H2 có chuyển nhượng cho ông Trần Công N3, bà Dương Thị Thanh T 01 diện tích đất 3802,8m², đất tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Giá chuyển nhượng là 260.000.000đồng. Đất chuyển nhượng cho ông N3, bà T là diện tích đất dưới hành lang đường điện, hai bên có lập giấy viết tay mua bán, không có công chứng, chứng thực theo quy định. Hiện nay ông N3, bà T quản lý và sử dụng trái phép của bà H diện tích 914m² thuộc quyền sử dụng đất số 881 thửa 441, tờ bản đồ số 13 do UBND huyện Đ cấp ngày 19/7/2004. Diện tích chuyển nhượng cho ông N3, bà H là đất đứng tên hộ ông Trương Công H2, đối với diện tích 914m² bà H, ông H2 không chuyển nhượng cho ông N3, bà T, hiện nay ông N3, bà T đang quản lý, sử dụng trái phép. Nay bà H yêu cầu Tòa án buộc ông N3, bà T phải trả lại cho bà H diện tích đất 914m². Ông N3 chỉ được sử dụng diện tích 3802,8m² dưới đường dây điện như đã thỏa thuận. Ngoài ra không có ý kiến gì khác. Ông Trương Công H2 (chồng của bà H) đã chết năm 2008 .
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N2 trình bày:
Diện tích đất tranh chấp tại thửa 441 tại ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước hiện đang tranh chấp giữa ông Trần Trung N với bà Trần Thị Mai H không liên quan gì đến bà N2, bà N2 không còn đất ở ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Nay giữa các bên tranh chấp bà N2 không liên quan, không có ý kiến yêu cầu gì. Vì lý do sức khỏe bà N2 xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, xét xử tại Tòa án.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trương Thiên L, Trương Thị Ánh H1, Trương Thị Hồng P trình bày: Phần đất tranh chấp là tài sản riêng của bà H không liên quan gì, không có yêu cầu gì và xin được vắng mặt.
* Người làm chứng ông Đinh Tiến Đ trình bày:
Vào ngày 17/8/2013 ông Đ có thuê đất của ông Trần Trung N và bà Dương Thị Thanh T tại ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, mục đích thuê để làm trồng quýt. Diện tích thuê khoảng gần 01 hecta. Sau khi thuê thì ông Đ dọn dẹp đất và trồng quýt toàn bộ diện tích ông Đ thuê của ông N, bà T. Ông Đ thuê 10 năm, giá thuê năm đầu 15.000.000đồng/năm, từ năm thứ 2 trở đi mỗi năm 30.000.000đồng/năm. Ông Đ đã trả đủ tiền cho ông N. Khi thuê đất có lập hợp đồng thuê ngày 17/8/2013 tại nhà ông N tại ấp C, xã Đ. Khi ông Đ phát dọn đất năm 2013 thì bà H có biết, bà H không có ý kiến gì mà bà H còn cho ông Đ kéo nhờ dây điện từ nhà bà H ra đến giếng khoan để sử dụng và bơm nước tưới cây quýt thời gian 02 năm đến năm 2015 thì ông Đ sang nhượng cây trồng lại cho ông Mai Hữu T1 nên từ đó ông Đ không sử dụng nhờ điện của bà H nữa. Khi thuê đất ông Đ thấy ông N đã rào phần diện tích đất này lại phía sau và hông bên tay trái phía đường điện đi vào. Do giữa ông Đ với ông N đã thực hiện xong hợp đồng thuê đất; Đối với ông T1 ông Đ đã thực hiện xong hợp đồng sang nhượng thành quả cây trồng trên đất xong ông Đ không có ý kiến yêu cầu gì đối với 02 hợp đồng nêu trên. Ông Đ xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
* Người làm chứng ông Đinh Trọng V1 trình bày: Ông V1 với ông N, bà T, bà H và ông H2 là hàng xóm cùng tổ, cùng ấp không quan hệ họ hàng gì cả, ông V1 giáp ranh đất ông H2 trước đây, nay là giáp ranh đất ông N vì ông N mua lại đất của ông H2, bà H. Ông V1 không biết ông N chuyển nhượng đất như thế nào, ông V1 không nhớ rõ năm nào có thấy ông N trồng cỏ trên đất, sau đó ông N cho ông Đ là Công an xã Đ cũ trồng quýt. Sau đó ông T1 ở Cà Mau lên ở nói mua lại của ông Đ để chăm sóc đến năm 2019 ông V1 biết ông T1 giao lại cho ông N diện tích đất này và có cây quýt trên đất. Ông V1 giáp ranh nhưng không thấy việc tranh chấp giữa bà H, ông H2 với ông N, ông Đ, ông T1, đến năm 2019 thì ông V1 mới biết có việc tranh chấp đất giữa ông N với bà H. Ngoài ra ông V1 không trình bày gì nữa cả.
* Người làm chứng ông Trần Xuân H3 trình bày: Giữa ông H3 và ông N, bà H không có mối quan hệ gì, ông N chỉ là người thuê ông H3 đổ đất và không có mâu thuẫn với bà H hay ông N. Khoảng năm 2005, 2006 không nhớ cụ thể thời gian, ông N có thuê ông H3 đổ đất lấp 02 cái ao tại ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, khoảng 200 xe đất, mỗi xe 300.000đồng/xe, lúc đó đất trống trên đất có 02 cái ao nước, ông H3 đổ đất hơn 15 ngày là xong. Khi đổ đất cho ông N khoảng 15 ngày thì không có ai cản trở gì cả. Do lâu quá không nhớ rõ vị trí nhưng còn nhớ lúc đó có 02 cái ao và 01 căn nhà xây nhỏ trên diện tích đất. Ngoài ra ông H3 không biết việc ông N, bà H đang tranh chấp như thế nào cả, ông H3 chỉ biết khai rõ sự thật. Ngoài ra không có trình bày gì thêm.
* Người làm chứng ông Đồng Thanh T2 trình bày: Ông T2 với bà H, ông H2, ông N, bà T là hàng xóm với nhau cùng tổ, cùng ấp không có mâu thuẫn gì với nhau cả. Ông T2 có biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H ông H2 với ông N bà T tại ấp C, xã Đ, trên đất có 02 cái ao do ông Hồ đ để tưới tiêu, trên đất có trồng tiêu, diện tích đất cụ thể bao nhiêu ông T2 không rõ nhưng vị trí đất hiện giờ ông N đang quản lý, sử dụng, số tiền ông T2 không biết bao nhiêu, không có chứng kiến trực tiếp mà chỉ nghe vì lúc đó ông mua đất ở gần đó, sau đó khoảng năm 2005 ông T2 không sử dụng nữa mà bán cho người khác. Ông T2 biết ông N quản lý sử dụng diện tích đất đó từ năm 2005 và lấp ao hồ trồng cỏ đến năm 2013 thì thấy ông Đ trồng quýt, đến năm 2017 ông Đ giao lại cho ông T1, năm 2019 ông T1 về tỉnh Cà Mau và giao lại cho ông N và ông N quản lý sử dụng từ đó đến nay. Ông T2 nhận thấy bà H cho rằng đất của bà H là không đúng, vì thực tế ông T2 biết bà H ông H2 đã bán cho ông N và ông N đã quản lý, sử dụng từ đó đến nay, khi bán thì bà H bán hết không còn diện tích đất nào gần ông N cả.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2020/DS-ST ngày 02/6/2020 (kèm Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 04/2020/QĐ-SCBSBA ngày 03/6/2020), Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tuyên xử:
1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Trung N và bà Dương Thị Thanh T.
1.1. Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 02/11/2005 giữa bà Trần Thị Mai H và ông Trương Công H2 với ông Trần Trung N và bà Dương Thị Thanh T đối với diện tích thực tế sử dụng 837,5m² đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881/QSDĐ/1484/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày 19/7/2004 đứng tên hộ bà Trần Thị Mai H cùng tài sản gắn liền trên đất là 40 cây quýt và 02 cây bưởi trồng năm 2013;
Ông Trần Trung N, bà Dương Thị Thanh T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tiếp tục thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881/QSDĐ/1484/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày 19/7/2004 đứng tên hộ bà Trần Thị Mai H.
Tách việc hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động giữa ông Mai Hữu T1 với Trần Trung N ra để giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 15/6/2020 bị đơn bà Trần Thị Mai H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông ông N, bà T trả lại diện tích đất đang chiếm giữ trái pháp luật của bà H. Ông N, bà T chỉ được sử dụng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng là 3.802,8m².
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 172/2020/DS-PT ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trần Thị Mai H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2020/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Trung N và bà Dương Thị Thanh T về việc công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 914m² tại thửa đất số 441, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Ngày 25/8/2022, ông Trần Trung N có đơn đề nghị giám đốc thẩm gửi Tòa án nhân dân tối cao.
Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 38/2024/DS-GĐT ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm số 49/2023/KN-DS ngày 22/9/2023 của Chánh án tòa án nhân dân tối cao.
2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 172/2020/DS-PT ngày 30/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử vụ án” “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Trần Trung N và bà Dương Thị Thanh T với bị đơn bà Trần Thị Mai H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Những người kế thừa quyền tố tụng của bị đơn bà Trần Thị Mai H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mai H và giữ nguyên Bản án sơ thẩm 14/2020/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo, kháng nghị:
Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Mai H làm trong thời gian luật định, hình thức và nội dung phù hợp các quy định tại các Điều 272, Điều 273 của BLTTDS.
[2] Về nội dung: Phần đất tranh chấp có diện tích 914m² (đo đạc thực tế là 837,5m²) thuộc thửa đất số 441, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881/QSDĐ/1484/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày 19/7/2004 đứng tên hộ bà Trần Thị Mai H (lúc này bà H và ông H2 chưa ly hôn).
Ngày 02/11/2005, bà H và ông H2 lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 3.802,8m² cho ông Trần Trung N, bà Dương Thị Thanh T với giá 260.000.000 đồng. Ông N, bà T cho rằng 3.802,8m² nêu trên bao gồm diện tích của 03 thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông H2 bà H là thửa đất số 604 (diện tích 1.800m²), thửa đất số 371 (diện tích 1.028m²), thửa đất số 441 (diện tích 914m²). Tuy nhiên, bà H chỉ thừa nhận đã chuyển nhượng thửa đất số 604 và thửa đất số 371, còn thửa đất số 441 không sang nhượng do bà H cho rằng bà chỉ sang nhượng phần đất dưới đường điện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thửa đất số 441. Thực tế, ông N bà T đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng theo giấy sang nhượng đất viết tay giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng ông H2 bà H và bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng ông N bà T với số tiền là 260.000.000 đồng. Sau khi giao tiền đủ, vợ chồng ông N bà T đã nhận đất, rào lưới xung quanh toàn bộ phần đất (trong đó có thửa đất số 441); cải tạo, lấp ao và cho người khác thuê trồng quýt từ khi nhận chuyển nhượng, ông H2 bà H không phản đổi hay khiếu nại gì về việc sử dụng đất này, ông N bà T sử dụng ổn định đến khi xảy ra tranh chấp vào tháng 6/2018. Hiện tại vợ chồng bà H ông H2 đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 604 và thửa 371 cho vợ chồng ông N, còn thửa đất số 441 có diện tích 914m² đứng tên hộ bà Trần Thị Mai H không bàn giao cho vợ chồng ông N bà T. Năm 2007, vợ chồng ông H2, bà H ly hôn và đã được Tòa án hai cấp giải quyết không có đề cập đến phần đất thuộc thửa đất số 441 mặc dù trước đó hộ bà H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, có căn cứ để cho rằng thửa đất số 441 có diện tích 914m² bà H ông H2 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông N bà T trước khi ly hôn. Do đó, cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 02/11/2005 giữa vợ chồng bà H ông H2 và vợ chồng ông N bà T là có căn cứ.
[2.1] Xét nội dung kháng cáo của bà Trần Thị Mai H: Tại phiên tòa phúc thẩm, do bà Trần Thị Mai H đã chết, những người con của bà H là ông Trương Thiên L, sinh năm 1994, bà Trương Thị Ánh H1 sinh năm 1989, bà Trương Thị Hồng P sinh năm 1998 là con ruột của ông H2 bà H là những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng đều đồng ý ủy quyền cho ông Tạ Duy V tiếp tục tham gia tố tụng, đồng thời thông qua người đại diện ủy quyền vẫn giữa nguyên kháng cáo của bà Trần Thị Mai H. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của vợ chồng ông N bà T và buộc vợ chồng ông N bà T phải trả lại phần đất đã sử dụng trái phép tại thửa số 441 có diện tích thực tế 837,5m² cho ông L, bà H1 và bà P sử dụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng và người được ủy quyền không đưa ra được chứng cứ mới so với cấp sơ thẩm để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Hơn nữa, giấy sang nhượng đất được lập ngày 02/11/2005 giữa vợ chồng ông H2 bà H bên chuyển nhượng và vợ chồng ông N bà T bên nhận chuyển nhượng có diện tích là 3802,8m², tuy nhiên, trong giấy sang nhượng viết tay không ghi số thửa đất chuyển nhượng. Ông N, bà T cho rằng 3.802,8m² nêu trên bao gồm thửa 604 có diện tích 1800m², thửa số 371 có diện tích 1028m² và thửa số 441 có diện tích là 914m² có diện tích chung là 3742,8m², so với diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ bà H được cấp còn thiếu 608,8m². Như vậy, có căn cứ cho rằng vợ chồng ông H2 bà H đã sang nhượng cho vợ chồng ông N bà T những thửa đất trên. Hiện tại ông H2 đã chết ngày 22/12/2008 cho nên tòa sơ thẩm không lấy lời khai. Tuy nhiên, tại bản án Hôn nhân phúc thẩm số 01/2008/DS-PT ngày 24/10/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước giải quyết cũng không đề cập đến phần đất này, do đó có căn cứ cho rằng phần đất tại thửa số 441 có diện tích thực tế 837m² đã được vợ chồng bà H ông H2 sang nhượng cho vợ chồng ông N bà T từ năm 2005. Hơn nữa theo lời trình bày của một số người liên quan và những người làm chứng như ông Đinh Tiến Đ, ông Đinh Trọng V1, ông Trần Xuân H3, ông Đồng Thanh T2 đều khẳng định thửa đất số 441 từ năm 2005 cho đến khi xảy ra tranh chấp vào năm 2019 do vợ chồng ông N bà T đang sử dụng không có ai tranh chấp với vợ chồng ông N. Từ khi sang nhượng cho vợ chồng ông N bà T, ông H2 bà H và các con của ông H2 bà H vẫn sinh sống tại ấp C, xã Đ, huyện Đ không có ý kiến gì về việc vợ chồng ông N canh tác đã sử dụng thửa đất trên. Do đó kháng cáo của bà H cho rằng bà chỉ sang nhượng phần đất dưới đường điện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thửa đất số 441 là không có cơ sở, đồng thời có đủ căn cứ xác định bà H ông H2 đã chuyển nhượng quyển sử dụng đất tại thửa đất số 441 cho ông N bà T vào năm 2005.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Thị Mai H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Do bà H đã chết nên những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của bà Trần Thị Mai H gồm ông Trương Thiên L, bà Trương Thị Ánh H1 và bà Trương Thị Hồng P phải chịu.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần Thị Mai H phải chịu 300.000 đồng.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mai H thông qua những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng gồm ông Trương Thiên L sinh năm 1994, bà Trương Thị Ánh H1 sinh năm 1989, bà Trương Thị Hồng P sinh năm 1998;
Giữ nguyên Bán án dân sự sơ thẩm số 14/2020/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 165, 166, 227, 228, 229, 233; 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 388, 697, 699, 702 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 129, 688 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Trung N và bà Dương Thị Thanh T.
Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 02/11/2005 giữa bà Trần Thị Mai H và ông Trương Công H2 với ông Trần Trung N và bà Dương Thị Thanh T đối với diện tích thực tế sử dụng 837,5m² đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881/QSDĐ/1484/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày 19/7/2004 đứng tên hộ bà Trần Thị Mai H cùng tài sản gắn liền trên đất là 40 cây quýt và 02 cây bưởi trồng năm 2013; đất có tứ cận:
Phía Đông giáp đường tự mở 3m dài 20,73m;
Phía Tây giáp đất ông N dài 24,91m;
Phía Nam giáp đất ông Đ1 dài 36,8m;
Phía Bắc giáp đất bà T dài 32,52m;
(Có sơ đồ đo đạc kèm theo).
Ông Trần Trung N, bà Dương Thị Thanh T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tiếp tục thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 881/QSDĐ/1484/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày 19/7/2004 đứng tên hộ bà Trần Thị Mai H.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Do bà H đã chết nên những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của bà Trần Thị Mai H gồm ông Trương Thiên L, bà Trương Thị Ánh H1 và bà Trương Thị Hồng P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
Ông Trần Trung N không phải nộp án phí, hoàn trả cho ông N số tiền tạm ứng án phí 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010717, quyển số 0215 ngày 28/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Mai H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004132, quyển số 0083 ngày 15 tháng 6 năm 2020.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Bình |
Bản án số 141/2024/DS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 141/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mai Hoa thông qua những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng gồm ông Trương Thiên Long sinh năm 1994, bà Trương Thị Ánh Hồng sinh năm 1989, bà Trương Thị Hồng Phụng sinh năm 1998; Giữ nguyên Bán án dân sự sơ thẩm số 14/2020/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
