Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CM

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 141/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-5-2024.

V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Ngô Văn Được và bà Nguyễn Thị Ly.

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Thuận An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM tham gia phiên tòa: ông Nguyễn phước Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 198/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 2001, địa chỉ: số 231, ấp PQ, xã PH, huyện AP, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Trần Quốc N, sinh năm 1999; địa chỉ: số 253, ấp MH, xã MHĐ, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L trình bày: Bà và ông Trần Quốc N chung sống nhau vào đầu năm 2021, có tổ chức lễ cưới, đến năm 2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội Đông, hôn nhân do ông, bà tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Sau khi cưới ông bà đi làm công N trên Bình Dương, vợ chồng chung sống được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng ăn chơi không lo làm ăn chăm sóc vợ con nên thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Quốc N; về con chung: bà L và ông N có 01 con chung tên Trần Chí T, sinh ngày 12/6/2022 hiện đang sống với bà L, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung; tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết; về nợ chung; không có.

Bị đơn ông Trần Quốc N đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông về nội dung đơn khởi kiện của bà L.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Đối với nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc L, từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định, tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, có yêu cầu xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn: Ông Trần Quốc N, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình, đề xuất;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc L đối với ông Trần Quốc N.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trúc L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Chí T, sinh ngày 12/6/2022; ông Trần Quốc N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

[1]. Bà Nguyễn Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Quốc N. Ông N có nơi cư trú tại ấp Mỹ Hòa A, xã Mỹ Hội Đông, huyện CM, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trần Quốc N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

* Về nội dung:

[3]. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Trần Quốc N xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2021 đến năm 2022 đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà L trình bày vợ chồng chung sống được khoảng 01 năm thì mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng ăn chơi không lo làm ăn chăm sóc vợ con nên thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không tới lui thăm nhau. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Quốc N. Hội đồng xét xử xét thấy, ông Trần Quốc N đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, cũng như tạo điều kiện hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Trong thời gian ly thân vợ chồng không tới lui thăm nhau để hàn gắn tình cảm, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Mặc khác, bà L xác định không còn tình cảm với chồng nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trúc L xác định bà và ông Trần Quốc N có con chung tên Trần Chí T, sinh ngày 12/6/2022 hiện nay đang sống đang sống với bà L. Bà L yêu yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện vọng của con. Từ lúc vợ chồng ly thân đến nay bà L là người trực tiếp nuôi con nên tình cảm, tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng, thời gian chung sống với bà L cháu T vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần. Do đó, cần để bà L tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Do bà Nguyễn Thị Trúc L không yêu cầu ông Trần Quốc N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[5]. Về tài sản chung: do bà Nguyễn Thị Trúc L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[6] Về nợ chung: ghi nhận bà Nguyễn Thị Trúc L xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[7] Về án phí: bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc L:

Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với ông Trần Quốc N. Giấy chứng nhận kết hôn số 20 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội Đông, huyện CM, tỉnh An Giang cấp ngày 14 tháng 02 năm 2022 cho bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Trần Quốc N không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trúc L được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Chí T, sinh ngày 12/6/2022, ông Trần Quốc N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Thị Trúc L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Quốc N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0015051 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang cấp ngày 20 tháng 02 năm 2024. Bà Nguyễn Thị Trúc L đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND H. CM;
  • -TAND tỉnh An Giang;
  • -Chi cục THADS H. CM;
  • -UBND thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 141/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L trình bày: Bà và ông Trần Quốc N chung sống nhau vào đầu năm 2021, có tổ chức lễ cưới, đến năm 2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội Đông, hôn nhân do ông, bà tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Sau khi cưới ông bà đi làm công N trên Bình Dương, vợ chồng chung sống được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng ăn chơi không lo làm ăn chăm sóc vợ con nên thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Quốc N; về con chung: bà L và ông N có 01 con chung tên Trần Chí T, sinh ngày 12/6/2022 hiện đang sống với bà L, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung; tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết; về nợ chung; không có.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger