Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 141/2025/HS-ST

Ngày: 20-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Hưng;

Bà Trần Thúy Nga.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thùy Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Tòa án nhân dân huyện Định Quán tiến hành xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

  • - Trần Văn Đ; Giới tính: Nam; Sinh năm 2000, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn H; con bà Trần Thị B; Có vợ là Chìu Thị X 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2025 đến nay. (Có mặt)
  • - Nguyễn Đăng Q; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Đăng T, con bà Đỗ Thị G; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2025 đến nay. (Có mặt)
  • - Trần Văn T1; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995, tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký thường trú (Chỗ ở): Ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Không rõ; Con bà Trần Thị Kim T2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2025 đến nay. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 23/02/2025, Đ1 khiển xe mô tô biển số 85B1-379.93 đến khu vực cầu T - thuộc xã N, Đ2 gặp và mua 200.000 đồng ma túy của đối tượng tên A(không rõ nhân thân lai lịch). Sau khi mua được ma túy, Đ3 giấu ma túy trên vành nón kết đang đội và tiếp tục điều khiển xe đến nhà ông Nguyễn Nhật L năm 1977, trú tại tổ A, ấp C, xã T cầm cố chiếc xe mô tô biển số 85B1-379.93 được 1.400.000 đồng. Sau khi cầm xe xong, Đsử dụng tài khoản Z tên là “Đ” gọi qua tài khoản Zalo của Q1 là “Đăng Quỳnh” để nhờ Qđến nhà ông L1 Đvề nhà QTrên đường đi, Đ4 cho Q2 là Đ5 ma túy. Khi về đến chòi rẫy của QĐlấy bịch ma túy ra đưa cho Qcòn Q3 lấy dụng cụ để sử dụng ma túy (gồm 01 chai nước ngọt có nắp khoét thủng hai lỗ, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 lỗ gắn ống hút nhựa dùng để sử dụng ma túy đá, 01 hộp quẹt ga). Qbỏ ma túy vào nỏ rồi lấy quẹt khò đốt nóng nỏ lên để Qvà ĐCùng nhau sử dụng ma túy cho đến khi hết ma túy. Đến khoảng 01 giờ 30 phút sáng ngày 24/02/2025, trong khi Đvà Q4 chơi game, cả hai tiếp tục có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã cùng bàn bạc góp tiền mua ma túy, Qgóp 200.000 đồng và Đ6 100.000 đồng để Q3 mua ma túy. Quỳnh liên lạc qua tài khoản Ztên “Trần T1để hỏi mua của T1300.000 đồng ma túy. T1đồng ý. Sau đó, Q5 khiển xe mô tô biển số 60H6-130.44 đi đến gần nhà T1thuộc ấp G, xã T cho Q01 bịch ma túy, Qtrả cho T1100.00 đồng tiền mặt và sử dụng số tài khoản 0334503306 tại Ngân hàng V khoản vào tài khoản 0344545747 của T1tại Nsố tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy từ T1Qvà Đđã cùng nhau sử dụng tại nhà của Q, đến 07 giờ sáng ngày 24/02/2025, trong khi Đvà Q đang ngủ tại chòi rẫy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ cùng tang vật sử dụng ma túy.

Đối với T1sau khi làm việc với Cơ quan Công an, T1khai nhận: Bản thân T1là người sử dụng trái phép chất ma túy (loại ma túy đá) từ đầu năm 2020 đến nay, nhưng không thường xuyên. Ngày 20/02/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá, nên T1đã liên lạc với tài khoản Facebook tên “T3(không rõ nhân thân lai lịch), để hỏi mua 600.000₫ ma túy, hai bên thỏa thuận và thống nhất hẹn gặp tại khu vực đường giao thông thuộc ấp G, xã T, huyện Đ 12 giờ 00 ngày 20/02/2025, T1đến điểm hẹn, gặp một người đàn ông và đưa cho người này số tiền 600.000đ, rồi nhận 01 gói nylon chứa ma túy đá. Mua được ma túy, T1mang về nhà lấy một ít sử dụng, số ma túy còn lại, T1cất trong gói nylon để sử dụng sau. Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 24/02/2025, Nguyễn Đăng Q6 tin (qua Zalo) của T1để hỏi mua ma túy với số tiền 300.000đ, Tlđồng ý và gửi số tài khoản 0344545747 thuộc Ngân hàng T5 T1cho Qđể Qchuyển khoản cho T1Sau khi nhận được số tiền 200.000đ từ số tài khoản 0334503036 thuộc Ngân hàng V1 gặp Qtại đường dốc thuộc ấp G, xã T, huyện Đ giao nhận ma túy. Sau khi giao ma túy cho Q7, T1đã nhận thêm từ Qsố tiền 100.000đ tiền mặt. Đến khoảng 17 giờ 00 ngày 24/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ bắt giữ Tlvề hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Vật chứng vụ án: 01 dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 ống hút, 01 nỏ thủy tinh bên trong có bám dính chất màu nâu); 01 bịch nylon bên trong có bám dính tinh thể màu trắng; 03 điện thoại di động gồm 01 điện thoại di động hiệu vivo, số IMEL1: 86249047118411, số IMEL2: 862494047118403, số thuê bao: 0334503036, thu giữ của Nguyễn Đăng Q8 điện thoại di động hiệu oppo A3S, màu đỏ, số IMEL1 868125040535219, số IMEL2: 868125040535201, số thuê bao 0972807687, thu giữ của Trần Văn Đ7 điện thoại di động nhãn hiệu redmi Note 13, màu đen IMEL 1: 869972069529907, IMEL 2: 869972069529915, số thuê bao 0344545747 thu giữ của Trần Văn T1; Đối với xe mô tô biển số 60H6 – 103.44, thu giữ của Nguyễn Đăng Q9 tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Đỗ Thị G1 năm 1971, HKTT: ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai(mẹ ruột của Nguyễn Đăng Q10 ngày 24/02/2025, Qmượn xe mô tô của bà G2 đi công việc cá nhân. Việc Qsử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy bà G3 toàn không biết. Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Đỗ Thị G.

Kết quả giám định chất ma túy: Căn cứ Bản kết luận giám định số: 355/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của Phòng KCông an tỉnh Đxác định:

  • - Mẫu chất màu đen (ký hiệu M1) bám dính trong nỏ thủy tinh, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
  • - Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M2) bám dính trong 01 gói nylon bị hở một đầu, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Đ9 T1có tên thường gọi là “T3và “Anh” hiện chưa rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan CSĐT đã tiến hành rà soát, xác minh tại ấp G, xã T, huyện Đ xác định được đối tượng, nên không có căn cứ xử lý.

Tại Cáo trạng số 132/CT-VKSÐQ, ngày 19 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố các bị cáo Trần Văn Đvà Nguyễn Đăng Q11 tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố Trần Văn Tlvề tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Nguyễn Đăng Q mỗi bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số IMEL1: 86249047118411, số IMEL2: 862494047118403, số thuê bao: 0334503036 thu giữ của Nguyễn Đăng Q 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S, màu đỏ, số IMEL1 868125040535219, số IMEL2: 868125040535201, số thuê bao 0972807687, thu giữ của Trần Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen IMEL 1: 869972069529907, IMEL 2: 869972069529915, số thuê bao 0344545747 thu giữ của Trần Văn T1. Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong sau giám định, số Cbên trong có 01 nỏ thủy tinh và 01 bịch nylon bám dính chất ma túy; 01 chai nhựa và 01 ống hút. Buộc Trần Văn T1phải nộp lại, sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng là số tiền có được từ hành vi bán ma túy. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Vào ngày 23/02/2025 và ngày 24/02/2025, tại nhà của Nguyễn Đăng Q12 ấp G, xã T, huyện Đ Trần Văn Đ8 có hành vi cùng nhau bàn bạc, góp tiền mua ma túy, cung cấp địa điểm, chuẩn bị công cụ, phương tiện để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cùng nhau sử dụng trái phép 02 lần. Trần Văn T1đã có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Đăng Q13 số tiền 300.000 đồng. Vì vậy, có đầy đủ căn cứ xác định: Hành vi do bị cáo Trần Văn Đ9 Nguyễn Đăng Q đã thực hiện phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi do bị cáo Trần Văn T3 thực hiện phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Xét vị trí vai trò của từng bị cáo, về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

[3.1] Xét vị trí vai trò của từng bị cáo cho thấy: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, trong đó Trần Văn Đ10 người rủ rê, Nguyễn Đăng Q9 đồng phạm đã cung cấp địa điểm, công cụ sử dụng ma túy, trực tiếp trao đổi, liên lạc để mua ma túy từ T

[3.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý Nhà nước về ma túy vì ma túy là loại độc dược, gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình. Các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng phạt, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015( được sửa đổi bổ sung năm 2017).

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 03 điện thoại di động gồm 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số IMEL1: 86249047118411, số IMEL2: 862494047118403, số thuê bao: 0334503036, thu giữ của Nguyễn Đăng Q8 điện thoại di động hiệu Oppo A3S, màu đỏ, số IMEL1 868125040535219, số IMEL2: 868125040535201, số thuê bao 0972807687, thu giữ của Trần Văn Đ7 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen IMEL 1: 869972069529907, IMEL 2: 869972069529915, số thuê bao 0344545747 thu giữ của T Là phương tiện các đối tượng sử dụng vào hành vi phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong sau giám định, số Cbên trong có 01 nỏ thủy tinh và 01 bịch nylon bám dính chất ma túy; 01 chai nhựa và 01 ống hút.
  • - Cần buộc Trần Văn T4 nộp lại số tiền 300.000 đồng là số tiền có được từ hành vi bán ma túy để sung công quỹ Nhà nước.

[7] Về tội danh, điều luật, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Trần Văn ĐNguyễn Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24/02/2025.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng Q: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24/02/2025.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T1: 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24/02/2025.

  • - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 03 điện thoại di động gồm 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số IMEL1: 86249047118411, số IMEL2: 862494047118403, số thuê bao: 0334503036; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S, màu đỏ, số IMEL1 868125040535219, số IMEL2: 868125040535201, số thuê bao 0972807687; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen IMEL1: 86997206952990, IMEL2: 869972069529915, số thuê bao 0344545747.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 chai nhựa và 01 ống hút; 01 gói được niêm phong số 355/KL-KTHS của phòng KTHS Công an tỉnh Đsau giám định bên trong có 01 nỏ thủy tinh và 01 bịch nylon bám dính chất ma túy;

Buộc Trần Văn Tlphải nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

(Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Định quản theo quyết định chuyển vật chứng số 277/ QĐ-VKS- HS ngày 19/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21 tháng 5 năm 2025.)

  • - Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo: Trần Văn ĐNguyễn Đ11 QTrần Văn T1mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo: Trần Văn ĐNguyễn Đăng QTrần Văn Tlcó quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Định quán;
  • - TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Định quán;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan THA HS có thẩm quyền;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 141/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Đ Điều 251, 255
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger