Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/DS-ST

Ngày: 16/6/2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Hứng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
  2. Bà Nguyễn Thị Mai Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Mỵ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 543/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 491/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Trụ sở: Số B - B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Duy P – Chức vụ: Chuyên viên (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/11/2023) – (Có mặt).

Địa chỉ chi nhánh C: Số I, đường V, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh L, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, đường H, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn ông Nguyễn Lê Duy P trình bày:

Ngày 03/12/2021, bà Nguyễn Thanh L có ký với Ngân hàng TMCP S, chi nhánh C Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Nguyễn Thanh L, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà Nguyễn Thanh L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 57.087.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay bà Nguyễn Thanh L thanh toán được 47.320.156 đồng. Do bà Nguyễn Thanh L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 10/10/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 30/10/2023, bà Nguyễn Thanh L còn nợ tiền vốn là 24.131.649 đồng, lãi quá hạn 667.480 đồng, tổng cộng 24.799.129 đồng. Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với khách hàng bà Nguyễn Thanh L, yêu cầu khách hàng có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để khách hàng trả nợ. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thanh L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại các Hợp đồng đã ký với Ngân hàng.

Vì vậy, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thanh L trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/10/2023 là 24.799.129 đồng (Trong đó, nợ gốc 24.131.649 đồng và nợ lãi quá hạn 667.480 đồng). Đồng thời, bà Nguyễn Thanh L có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh sau ngày 30/10/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng thẻ tín dụng.

* Bị đơn bà Nguyễn Thanh L: Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên không rõ ý kiến.

Đồng thời, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Nguyễn Thanh L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ tín dụng tạm tính đến ngày 16/6/2025 là 44.656.659 đồng (Trong đó, nợ gốc là 24.131.649 đồng, lãi quá hạn 20.528.010 đồng) và lãi suất phát sinh từ ngày 17/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thanh L thanh toán nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1881554 ngày 03/12/2021. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1881554 ngày 03/12/2021 thể hiện địa chỉ cư trú của bà Nguyễn Thanh L tại số A, đường H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, theo thông tin Công an Nhân dân phường A cung cấp thì được biết bà Nguyễn Thanh L không sinh sống tại địa chỉ trên từ năm 2021 đến nay, hiện đi đâu, làm gì địa phương không rõ. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Như vậy, việc bà Nguyễn Thanh L thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho Ngân hàng TMCP S biết nơi cư trú mới thì được xem là cố tình che giấu địa chỉ. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều căn cứ vào địa chỉ ghi trong hợp đồng để thực hiện các phương thức tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Xét bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1881554 ngày 03/12/2021 thể hiện nội dung bà Nguyễn Thanh L có mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP S, với hạn mức tín dụng được cấp là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất tại thời điểm mở thẻ là 31,2%/năm.

Theo kết quả sao kê lịch sử thanh toán của bà Nguyễn Thanh L thể hiện tính đến ngày 10/6/2023 bà L đã thực hiện 12 giao dịch với tổng số tiền ghi nợ là 57.087.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng tiền gốc, lãi, phí trễ hạn, phí vượt hạn mức cũng như các khoản phí khác với tổng số tiền là 47.320.156 đồng.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn từ ngày 10/10/2023 với tổng số nợ gốc là 24.131.649 đồng.

Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu buộc bà Nguyễn Thanh L có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 16/6/2025 là 44.656.659 đồng (Trong đó, nợ gốc 24.131.649 đồng, lãi quá hạn 20.528.010 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 17/6/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp với khoản 1 Điều 5, Điều 13 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng N; Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S được nhận lại 620.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001400 ngày 31/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

+ Bị đơn bà Nguyễn Thanh L phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận với số tiền 2.232.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Khoản 1 Điều 5, Điều 13 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng N;
  • - Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
  2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thanh L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ tín dụng tạm tính đến ngày 16/6/2025 là 44.656.659 đồng (Trong đó, nợ gốc là 24.131.649 đồng, lãi quá hạn 20.528.010 đồng) và lãi suất phát sinh từ ngày 17/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • + Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S được nhận lại 620.000 đồng (Sáu trăm hai mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001400 ngày 31/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
    • + Bị đơn bà Nguyễn Thanh L phải chịu 2.232.000 đồng (Hai triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.NK;
  • - Chi cục THADS Q.NK;
  • - TAND TP.CT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Hứng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 141/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger