Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 141/2024/HS-PT

Ngày: 13/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tuấn;

Bà Lê Thị Hạng.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Bai - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 203/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/QĐXXPT-HS ngày 03/12/2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2024/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Hữu T, sinh năm 1986, tại Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Kỹ sư; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1957 và bà Võ Thị Thúy L, sinh năm 1959;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C từ ngày 04/8/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hồ Ngọc N – Luật sư, V3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K, bào chữa theo yêu cầu của bị cáo.

Có mặt.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xét xử đối với các bị cáo Nguyễn Thị Bích N1, Lê Nguyễn Văn T1, Võ Minh T2, Huỳnh Thị Lệ H, Võ Thiên T3, Lê Nhật T4, tuy nhiên các bị cáo này không kháng cáo và không bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 12/12/2020, Tổ công tác gồm Công an thị trấn C phối hợp với Công an huyện C tiến hành kiểm tra hành chính quán K3 II do Đinh Tiến D làm chủ thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện C thì phát hiện tại phòng Vip 4, V, V có một số đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy nên Tổ công tác tiến hành thu giữ các tang vật và đưa về trụ sở làm việc. Qua làm việc, các đối tượng khai nhận như sau:

Tại phòng Vip 4: Khoảng 17 giờ ngày 11/12/2020, Ngô Thiên V gọi điện thoại rủ Nguyễn Thị Bích N1 tìm phòng hát karaoke để sử dụng trái phép chất ma túy thì N1 đồng ý và nói V chuẩn bị tiền thuê phòng hát karaoke và nhân viên nữ phục vụ, còn ma túy để N1 lo. Sau đó, V gọi điện thoại rủ Võ Minh T2, Phan Thành P, Lê Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Bình T5 cùng tham gia sử dụng ma túy thì tất cả đồng ý và thống nhất sẽ chia đều các khoản chi phí. N1 gọi điện thoại cho Võ Thị Thu N2 là nhân viên quán K3 để đặt phòng hát và rủ thêm Phan Thị Mỹ N3, Lê Hoài Bảo T6, Huỳnh Thị Lệ H cùng tham gia sử dụng ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, N1 cùng chồng là Mai Xuân T7 gặp nhóm của V tại cây xăng L1 thuộc thị trấn C, sau đó cả nhóm di chuyển xuống quán K3 vào phòng Vip 4. Sau khi vào phòng, T7 và T5 có việc riêng nên đi về trước, được một lúc thì H và Thu N2 vào phòng. Sau đó, N1 đi ra đường luồng bên cạnh quán K3 liên hệ với 02 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói nilon chứa ma túy khay và 03 viên thuốc lắc màu xanh với giá 1.500.000 đồng rồi vào phòng đưa gói ma túy khay cho H. Hân đổ một phần ma túy lên đĩa sứ màu trắng mà V mượn từ nhân viên của quán trước đó, đốt nóng ma túy, dùng thẻ ATM của Vương xào, chẻ chia ma túy thành nhiều đường kẻ nhỏ và quấn tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng của V đưa làm ống hút để hít các đường kẻ ma túy, số ma túy còn lại H đưa N1 cất giữ. Sau khi chuẩn bị xong ma túy, H đặt đĩa sứ và ống hút lên bàn, N1 để 03 viên thuốc lắc lên đĩa sứ để mọi người sử dụng. Khi T2, T1, V, P, N1, Thu N2, H đang sử dụng ma túy thì Mỹ N3, T6 và Đậu Thị H1 là nhân viên của quán vào phòng để cùng tham gia sử dụng ma túy. Sử dụng được một lúc, thấy ma túy trên đĩa gần hết, N1 lấy số ma túy còn lại đưa cho H để tiếp tục hơ nóng, xào, chẻ và chia ra thành nhiều đường kẻ nhỏ để cả nhóm cùng sử dụng. Khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì Công an vào kiểm tra phát hiện, lập biên bản và thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng bên trên có chất bột màu trắng; 1,5 viên nén màu xanh; 01 thẻ ATM; 01 ống hút quấn bằng tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng.

Tại phòng Vip 5: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/12/2020, sau khi ăn nhậu xong, Võ Thiên T3, Lê Nhật T4 và Nguyễn Hữu T đi đến quán K3 để hát. Cả nhóm vào phòng Vip 5 rồi gọi Lê Thị T8 (nhân viên) vào phòng phục vụ. T3 gọi điện thoại rủ Nguyễn Thị Tiểu P1 đến hát cùng, P1 đồng ý và rủ thêm Nguyễn Thị Mỹ V1 và Lò Kiều K1. P1 và V1 đến trước còn K1 bận việc nên đến sau. Khi cả nhóm đang hát thì có 01 nam thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) vào phòng mời mua ma túy thì cả nhóm đồng ý. T3, T và T4 thỏa thuận cùng nhau góp tiền mua 01 bịch ma túy với giá 900.000 đồng. Sau khi nhận tiền, đối tượng trên đổ ma túy ra đĩa sứ đựng trái cây ở trong phòng, dùng thẻ nhựa cứng phân ma túy thành từng đường nhỏ và chỉ cho cả nhóm cách dùng ống hút quấn bằng tờ tiền polymer hít ma túy vào mũi rồi bỏ đi. Sau đó, T3, T4, T, P1, V1 và T8 cùng nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/12/2020, K1 tới phòng Vip 5 thấy tất cả đang phê ma túy, trên đĩa sứ còn một ít ma túy nên tự mình sử dụng hết, sau đó thì lực lượng Công an vào kiểm tra, phát hiện lập biên bản và thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng ống hút quấn bằng tờ tiền polimer mệnh giá 10.000 đồng.

Tại phòng Vip 6: Khoảng 23 giờ ngày 11/12/2020, C (chưa rõ nhân thân, lai lịch) rủ Võ Trí Đạt K2 đến quán K3 uống bia và hát, K2 đồng ý và rủ thêm Nguyễn Phùng Đức N4. Đến quán, cả ba vào phòng Vip 6 để hát. Trong quá trình hát, K2 đi ra ngoài nghe điện thoại; còn C đi ra ngoài một lúc rồi vào phòng mang theo 01 đĩa sứ màu trắng, bên trên đựng ma túy. C dùng thẻ nhựa cứng phân ma túy thành từng đường nhỏ rồi mời N4 sử dụng. Khi N4 và C đang sử dụng ma túy thì K2, Huỳnh Ngọc H2 (bạn K2), Đỗ Minh T9, Trần Nhật Khải H3, Nguyễn Hữu C1, Trần Việt H4 (bạn N4) vào phòng hát và cùng sử dụng ma túy bằng cách dùng ống hút quấn bằng tờ tiền polymer hít ma túy vào mũi. Cả nhóm gọi 02 nhân viên là Nguyễn Thị Hoàng V2 và Nguyễn Thị Thúy N5 vào phòng phục vụ, nhưng N5 và V2 không sử dụng ma túy. Khi Cơ quan Công an vào kiểm tra thì C đã rời khỏi phòng Vip 6. Công an đã thu giữ trên bàn: 01 đĩa sứ màu trắng, trên đĩa có chất bột màu trắng và 01 ống hút quấn bằng tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng.

Ngoài ra, Công an còn phát hiện tại phòng số 7 có 01 đĩa sứ màu trắng, trên đĩa có chất bột màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng. Tuy nhiên quá trình kiểm tra, không phát hiện có đối tượng nào ở phòng số 7. Qua làm việc với nhân viên của quán thì vào tối 11/12/2020, có một nhóm khách lạ vào phòng hát và đã rời đi, nhân viên chưa dọn dẹp, vệ sinh phòng thì lực lượng Công an vào kiểm tra.

Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành niêm phong chất bột màu trắng và 1,5 viên nén màu xanh thu giữ tại phòng Vip 4 vào hộp A; niêm phong chất bột màu trắng tại phòng Vip 6, phòng số 7 lần lượt vào hộp B, C.

Tại Kết luận giám định số 67 ngày 11/01/2021 của Phòng K4 Công an tỉnh K kết luận: Mẫu ký hiệu A gồm: Chất bột màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,0259g, là (loại) Ketamine; Hai mảnh viên nén màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 0,1645g, là (loại) MDMA; chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, là (loại) Ketamine, không xác định được khối lượng; chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0351g, (loại) Ketamine.

Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hữu T; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 24/9/2024, bị cáo Nguyễn Hữu T có đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa theo hướng xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T trong thời hạn nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Về nội dung vụ án, bị cáo đã góp tiền, chọn địa điểm để tổ chức sử dụng ma túy tại quán karaoke, bị cáo cùng với Võ Thiên T3, Lê Nhật T4 cung cấp ma túy cho Nguyễn Thị Tiểu P1, Nguyễn Thị Mỹ V1 và Lò Kiều K1 để sử dụng ma túy. Do đó, có thể khẳng định cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với kháng cáo xem xét lại tội danh cho bị cáo là không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thì cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công cách mạng, bị cáo là cháu của liệt sĩ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 07 (bảy) năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Hữu T.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Hữu T và Luật sư bào chữa cho bị cáo: Không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Quá trình điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được những người sử dụng ma túy trên thực tế có chất ma túy trong người hay không. Tại biên bản xét nghiệm ma túy cho các đối tượng vào ngày 12/12/2020 vi phạm về thành phần tham gia lập biên bản xét nghiệm ma túy, quy trình xét nghiệm ma túy được thực hiện không đúng trình tự và trên thực tế không có việc xét nghiệm ma túy cho các đối tượng. Do đó, căn cứ Điều 86, 87, 88 Bộ luật tố tụng hình sự có thể khẳng định biên bản xét nghiệm ma túy không phải là chứng cứ trong vụ án này. Ngoài ra, tại phòng karaoke VIP5 không thu giữ được lượng ma túy nên không có việc niêm phong, giám định ma túy. Các cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được bị cáo có hành vi đưa ma túy vào cơ thể của các đối tượng khác tại phòng VIP5. Vì vậy, không đủ cơ sở cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm, xem xét lại tội danh cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để xác định: Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 12/12/2020, Công an thị trấn C phối hợp cùng Công an huyện C tiến hành kiểm tra hành chính quán K3 thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện C thì phát hiện tại phòng Vip 5 có Võ Thiên T3, Lê Nhật T4, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thị Tiểu P1, Nguyễn Thị Mỹ V1, Lê Thị T8 và Lò Kiều K1 đang sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó T3, T4 và T là những người cung cấp chất ma túy để tổ chức cho cả nhóm sử dụng trái phép. Các bị cáo Võ Thiên T3, Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T4 đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T:
    Đơn kháng cáo của bị cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh cho bị cáo vì bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng quy trình và thành phần xét nghiệm ma túy tại phòng VIP5 có sự sai sót, không thu giữ được lượng ma túy và các vật chứng khác tại phòng VIP5 nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm và xem xét lại tội danh cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng việc xét nghiệm ma túy và thu giữ lượng ma túy tại phòng VIP5 không phải là chứng cứ duy nhất để buộc tội bị cáo. Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phúc thẩm để kết tội bị cáo. Hành vi của bị cáo đã góp tiền, chọn địa điểm để tổ chức sử dụng ma túy tại quán karaoke, bị cáo cùng với Võ Thiên T3, Lê Nhật T4 cung cấp ma túy cho Nguyễn Thị Tiểu P1, Nguyễn Thị Mỹ V1 và Lò Kiều K1 để sử dụng ma túy. Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, lời bào chữa của luật sư không có cơ sở để chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân của bị cáo, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, gia đình bị cáo có công cách mạng, bản thân bị cáo là cháu của liệt sĩ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 07 (bảy) năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có tình tiết nào mới phát sinh thêm nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hữu T.

  1. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Hữu T.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2023.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

* Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND huyện Cam Lâm;
  • - VKSND huyện Cam Lâm;
  • - Công an huyện Cam Lâm;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Bích Liễu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 141/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Thuận tham ô tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger