TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 141/2024/HS-ST Ngày 12-12-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Phương Dung.
- Ông Trần Ngọc Đổi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2024/TLST-HS, ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Trần Văn T (Tên gọi khác: T mồ côi), sinh ngày 12 tháng 8 năm 1999, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ sửa xe mô tô; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: không rõ, mẹ: Trần Thị Thanh X (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 12/6/2024, tạm giam ngày 21/6/2024 cho đến nay (có mặt).
- Hồ Thanh T1 (Tên gọi khác: B), sinh ngày 25 tháng 3 năm 2001, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T2 và bà Lương Thị Ngọc T3; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ ngày 12/6/2024, tạm giam ngày 21/6/2024 cho đến nay (có mặt).
- Nguyễn Thành L, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2002, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Tổ F, thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ sửa xe mô tô; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Cơ ho; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Lý Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ ngày 12/6/2024, tạm giam ngày 21/6/2024 cho đến nay (có mặt).
- Người làm chứng:
- Nguyễn Minh T4, sinh năm 2005 (vắng mặt)
- Đinh Mỹ X1, sinh năm 2007 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 2, xã Sông Lũy, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận
Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện B phối hợp với Công an thị trấn L tiến hành tuần tra trên địa bàn khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Khi đến khu vực đối diện quán C, thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện B thì phát hiện có 02 đối tượng đang đi trên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển số 86B2-027.06 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra và 02 (hai) đối tượng khai tên là Đinh Mỹ X1 và Nguyễn Minh T4. Qua kiểm tra, phát hiện trên tay phải của T4 có cầm 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín, kích thước (0,2 x 01)cm, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn, màu trắng chưa xác định khối lượng. T4 khai nhận đoạn ống nhựa có đặc điểm nói trên mà lực lượng Công an thu giữ là ma túy đá của T4 nhờ X1 chở đến khu vực Xóm M, thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện B mua của bị cáo Trần Văn T với số tiền 200.000 đồng mục đích để T4 và X1 sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1 và thu giữ tang vật gồm: 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín, kích thước (0,2 x 01)cm, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn, màu trắng chưa xác định khối lượng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu trắng, có gắn sim số 087.870.5xxx của Nguyễn Minh T4; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển số 86B2- 027.06 của Đinh Mỹ X1. Lực lượng Công an đưa T4, X1 và toàn bộ tang vật về trụ sở để xác minh làm rõ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Đinh Mỹ X1 và Nguyễn Minh T4 khai số ma túy Lực lượng Công an thu giữ của T4, là do Trần Văn T và Hồ Thanh T1 bán cho T4 và X1 để sử dụng. Ngoài ra, T4, X1 còn khai nhận vào ngày 11/6/2024 thì T4, X1 còn mua 200.000 đồng ma túy từ Trần Văn T và T thừa nhận có giao ma túy cho Hồ Thanh T1 và Nguyễn Thành L để bán cho T4, X1. Sau đó, Cơ quan điều tra ra Quyết định trả tự do cho Nguyễn Minh T4 và Đinh Mỹ X1.
Cơ quan điều tra tiến hành mời Trần Văn T, Hồ Thanh T1 và Nguyễn Thành L làm việc. Qua đấu tranh, T, T1 và L đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành ra Lệnh giữ, bắt khẩn cấp đối với T, T1 và L về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ tang vật, cụ thể:
Thu giữ của Trần Văn T 01 xe mô tô biển số 86C1-901.36, hiệu Honda, loại Vario, màu trắng đen và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng, có gắn số sim 0784226519; Thu giữ của Nguyễn Thành L 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím, có gắn số sim 0522707127 và Thu giữ của Hồ Thanh T1 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, có gắn số sim 0876659585.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 822 ngày 13/6/2024 đối với chất thu giữ vào ngày 12/6/2024 của Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1 mua của Trần Văn T tại Phòng K1 Công an tỉnh B.
Kết luận giám định số 669/KL-KTHS ngày 20/6/2024, Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận về chất thu giữ vào ngày 12/6/2024 của Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1 mua từ Trần Văn T, như sau: 01 (một) phong bì được niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Như H1, Nguyễn Đình T5, Đinh Mỹ X1, Trần Văn T, Hồ Thanh T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn L, huyện B. Bên trong phong bì có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, có kích thước khoảng (0,2 x 01)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, gửi giám định được xác định có khối lượng 0,0525 gam; là Methamphetamine (ký hiệu M). H2 lại đối tượng giám định: 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu; 0,0392 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 669, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B.
Quá trình điều tra, Đinh Mỹ X1 và Nguyễn Minh T4 khai đã mua ma túy từ Trần Văn T 02 lần. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/6/2024, Nguyễn Minh T4 gọi rủ Đinh Mỹ X1 hùn tiền mua ma túy để sử dụng, X1 nói đang ở P khi nào về thì X1 gọi cho T4. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, làm việc xong X1 điều khiển xe mô tô biển số 86B2-027.06 chạy về ngã ba Sông L, huyện B gặp T4 để hùn tiền mua ma túy sử dụng, X1 đưa cho T4 100.000 đồng, nhận được tiền từ X1, T4 gọi cho Trần Văn T hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì T đồng ý và T nói T4 đến khu vực Xóm M, thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện B để giao ma túy cho T4, nói xong X1 điều khiển xe mô tô biển số 86B2-027.06, còn T4 điều khiển xe mô tô hiệu biển số 86B2-198.28 cùng đi đến khu vực Xóm M, thuộc khu phố L, thị trấn L để mua ma túy, khi đến gần quán C thì X1 ngừng lại để T4 một mình đi lấy ma túy. Khoảng 10 phút sau, T4 điều khiển xe quay lại chỗ X1 và nói với X1 là Nguyễn Thành L, Hồ Thanh T1 là đã giao ma túy cho T4, sau khi mua được ma túy X1 và T4 cùng điều khiển xe chạy về khu vực bờ sông thuộc thôn H, xã S, huyện B để sử dụng. Khi mua T4 không nói cho T, T1 và L biết số tiền mua ma túy do T4 và X1 góp chung.
Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 12/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T4 rủ X1 sử dụng, X1 nói không có tiền thì T4 nói T4 còn 200.000 đồng để T4 lo, khi nào có tiền trả lại cho T4 thì X1 đồng ý. Sau đó, T4 dùng điện thoại di động hiệu Vivo, màu trắng, có gắn số sim 0878705979 gọi bằng Facebook của T4 tên là “Nguyễn K” gọi vào Facebook của T tên là “Trần Văn T” để mua 200.000 đồng ma túy đá nhưng T không bắt máy nên T4 nhắn tin cho T “lấy em bit 2” (nghĩa là nói T bán cho T4 200.000 đồng ma túy đá) nhưng T không trả lời, sau đó T4 gọi cho Hồ Thanh T1 nhưng T1 không bắt máy nên T4 nhắn tin cho T1 “lấy em 1 bùn nhớt 2x” (nghĩa là nhờ T1 nói với T bán cho T4 200.000 đồng ma túy đá); sau đó, T có nhắn tin lại cho T4 nói T đang ăn trưa chờ xíu và hẹn T4 đến khu vực Xóm M thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện B, để giao ma túy cho T4. Lúc này, T4 nói X1 điều khiển xe mô tô biển số 86B2- 027.06 chở T4 đi mua ma túy, khi đến nơi T4 thấy Trần Văn T, Hồ Thanh T1 đang đứng đợi gần nhà Lâm Hoàng T6 (không có T6 ở nhà) X1 điều khiển xe chở T4 đến chỗ T, T1 đang đứng. Tại đây, T4 lấy 200.000 đồng đưa cho T và T lấy ra từ trong túi quần 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SCOTT, bên trong vỏ bao thuốc lá có 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá đưa cho T4. Khi nhận được ma túy từ T, T4 nói X1 chở T4 về khu vực bờ Sông, thuộc thôn H, xã S để sử dụng. Khi mua T4 không nói cho T và T1 biết số tiền mua ma túy do T4 và X1 góp chung.
Quá trình điều tra, Trần Văn T và Hồ Thanh T1 cùng trình bày do muốn có tiền tiêu xài nên T đã mua ma túy từ một người xe ôm (không rõ nhân thân) ở thành phố P về chia thành nhiều tép nhỏ, T cùng T1 cất giấu ma túy ở tiệm sửa xe của T mục đích để bán cho các con nghiện, số tiền bán ma túy thu được là 1.300.000 đồng, số tiền này T1 và T đã chia nhau mỗi người hưởng 650.000 đồng (T và T1 không nhớ được đã bán bao nhiêu tép, bán cho ai, ở đâu), còn lại 02 tép ma túy T lấy cất giấu chỗ khác không cho T1 biết. Sau đó, lấy 02 tép ma túy này bán cho Nguyễn Minh T4 02 lần. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ 00 ngày 11/6/2024, Trần Văn T cùng với Hồ Thanh T1 và Nguyễn Thành L đi đánh bida tại quán “Anh và E” ở thị trấn L, huyện B. Khi T1 đang đánh bida có người gọi đến cho T1 nhưng T bắt máy thì T nghe Nguyễn Minh T4 hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì T đồng ý và nói T4 chạy xuống khu vực Xóm M đi để lấy ma túy. T tắt máy rồi qua nói riêng với T1 có T4 hỏi mua 200.000 ma túy thì T1 không nói gì. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày T, T1, L về đến tiệm sửa xe mô tô của T ở khu phố L, thị trấn L, huyện B thì T từ trong tiệm sửa xe đi ra và có lấy 01 tép ma túy đưa cho T1, T nói T1 chạy đến khu vực Xóm M, thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện B để bán cho Nguyễn Minh T4 và lấy số tiền là 200.000 đồng mang về đưa cho T. Sau khi nhận ma túy từ T, T1 nói Nguyễn Thành L lấy xe mô tô biển số 86B2-470.67 chở T1 đi bán ma túy cho T4 giúp T thì L đồng ý, khi đến nơi thì T1 thấy T4 đang đứng chờ ở khu vực Xóm M nên T1 đưa tép ma túy mà T nhờ T1 đem giao cho T4, T4 đưa cho T1 số tiền là 200.000 đồng, sau đó L và T1 chạy xe về nhà bạn của L ở thị trấn L để L ghé nhà bạn của L chơi, còn T1 chạy xe mô tô biển số 86B2-470.67 về lại tiệm sửa xe gặp T để giao tiền bán ma túy 200.000 đồng cho T.
Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 12/6/2024, Trần Văn T nhận tin nhắn của Nguyễn Minh T4 gửi đến hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì T đồng ý. Khi T vừa đến tiệm sửa xe của T ở khu phố L, thị trấn L, huyện B thì Hồ Thanh T1 dùng messenger tên “Bin” gọi qua Facebook của T có tên “Trần Văn T” nói với T có Nguyễn Minh T4 hỏi mua bình nhớt hai xị (nghĩa là bán 200.000 đồng ma túy đá) và T1 hẹn T4 chạy xuống gần nhà Lâm Hoàng T6 ở khu vực Xóm M thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện B để T bán ma túy cho T4 và T đồng ý. T lấy 01 tép ma túy từ trong cái hộp giấy để trong tiệm sửa xe của T rồi T điều khiển xe mô tô biển số 86C1-0136 chạy đi. Nghe T nói xong T1 lấy xe mô tô biển số 86B2-750.77 chạy xuống tiệm sửa xe của T nhưng không thấy T, T1 hỏi người có tên Ba L2 là T ở đâu thì Ba L2 nói T chạy về hướng đường X thuộc khu phố L, thị trấn L nên T1 điều khiển xe chạy theo. T điều khiển xe mô tô biển số 86C1-0136 dừng xe tại quán nước mua 03 bịch nước sương sáo. Tại đây, T thấy T1 chạy xe đến, sau đó T và T1 cùng nhau chạy xe đến gần nhà Lâm Hoàng T6 (không có T6 ở nhà). Khi T4, X1 chạy xe tới chỗ T, T1 đang đứng, T lấy 01 tép ma túy đưa cho T4 và T4 đưa cho T số tiền là 200.000 đồng. Bán ma túy cho T4 xong, T1 và T mỗi người điều khiển chiếc xe, T điều khiển xe chạy về tiệm sửa xe của T thì bị lượng Công an mời về trụ sở Công an làm việc. Còn T1 về nhà ở khu phố L, thị trấn L đến khoảng 20 phút sau Lực lượng Công an đến mời T1 về trụ sở Công an thị trấn L để làm việc và tại Cơ quan Công an T10, T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nói trên.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và việc xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ gồm:
- 01 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu; 0,0392 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 669, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng, có gắn số sim 0784226519 thu giữ của Trần Văn T. Quá trình điều tra, xác định điện thoại trên là công cụ, phương tiện mà Trung thực hiện hành vi phạm tội bán ma túy vào ngày 11/6/2024, 12/6/2024.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, có gắn số sim 0876659585 tạm giữ của Hồ Thanh T1. Quá trình điều tra, xác định điện thoại trên là công cụ, phương tiện mà T1 thực hiện hành vi phạm tội bán ma túy vào ngày 11/6/2024, 12/6/2024.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím, có gắn số sim 0522707127 thu giữ của Nguyễn Thành L. Quá trình điều tra, xác định chiếc điện thoại của L không liên quan đến hành vi phạm tội mua bán ma túy vào ngày 11/6/2024, 12/6/2024.
Cơ quan điều tra sẽ chuyển toàn bộ tang vật trên đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình để bảo quản chờ xử lý theo pháp luật.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu trắng, có gắn sim số 087.870.5xxx thu của Nguyễn Minh T4. Quá trình điều tra, xác định điện thoại trên là của mẹ T4 là bà Nguyễn Thị Hiền M (sinh năm 1978, trú tại thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận), bà M để ở nhà, T4 tự ý lấy sử dụng không xin phép bà M nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà M.
- 01 xe mô tô biển số 86B2-027.06, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen thu giữ của Đinh Mỹ X1. Quá trình điều tra, xe mô tô trên là của cha X1 là ông Đinh Mỹ Đ (sinh năm 1963, trú tại thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận) mua lại của ông Lưu Văn T7 (sinh năm 1979; trú tại thôn T, xã S, huyện B) nhưng chưa làm thủ tục sang tên và chiếc xe ông Đ để ở nhà, X1 tự ý lấy sử dụng không xin phép ông Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Đ.
- 01 xe mô tô biển số 86C1-901.36, nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu trắng đen. Quá trình điều tra, xe mô tô trên là của là ông Lâm Hoàng Q (sinh năm 1997; trú tại khu phố L, thị trấn L, huyện B) mua lại từ cửa hàng bán xe do ông Nguyễn Minh T8 (sinh năm 2003; trú tại phường T, thành phố P) là chủ cửa hàng, T8 mua lại của bà Lê Thị T9 (sinh năm 1984; trú tại khu phố B, phường H, thành phố P) là người đứng tên giấy tờ xe bán lại cho T8, sau đó T8 bán lại cho Q và Q có mang đến tiệm sửa xe của Trần Văn T để sửa nhưng chưa lấy thì T tự ý sử dụng không xin phép ông Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Q.
Đối với 01 xe mô tô biển số 86B2-750.77, nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ và 01 xe mô biển số 86B2-470.67, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen là phương tiện Hồ Thanh T1 điều khiển thực hiện hành vi phạm tội mua bán ma túy, xác định 02 xe mô tô là của ba mẹ ruột T1 đứng tên và T1 tự ý lấy sử dụng ba mẹ của T1 không biết, vì 02 xe mô tô trên Cơ quan điều tra không tạm giữ.
Đối với hành vi tàng trữ ma túy 0,0525 gam là Methamphetamine của Nguyễn Minh T4 và Đinh Mỹ X1. Quá trình điều tra, xác định Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1 chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đủ yếu tố cấu thành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển vụ việc cho Trưởng Công an huyện B xử lý hành chính theo quy định.
Đối với nguồn gốc ma túy Trần Văn T bán cho Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1 là T mua từ một người (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực gần cây xăng số I, thành phố P. Qua xác minh do không đủ thông tin nên chưa xác định được người đã bán ma túy cho T. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Về biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền 400.000 đồng Trần Văn T bán ma túy cho Nguyễn Minh T4 và Đinh Mỹ X1 vào ngày 11/6/2024, 12/6/2024 có được là tiền thu lợi bất chính.
- Số tiền thu lợi bất chính từ hoạt động bán ma túy trước ngày 11/6/2024, 12/6/2024 mà Trần Văn T, Hồ Thanh T1 thừa nhận đã hưởng lợi tổng cộng 1.300.000 đồng, mỗi người đã chia nhau hưởng lợi là 650.000 đồng, quá trình điều tra do không xác định được bán ngày nào, bán cho ai, ở đâu nên không có căn cứ xem xét xử lý hình sự, riêng đối với số tiền trên là tiền thu lợi bất chính.
*Tại Cáo trạng số 139/CT-VKSBB ngày 18/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:
Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1, Nguyễn Thành L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T mức án 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Thanh T1 mức án 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L mức án 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
- 01 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu; 0,0392 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 669, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B.
Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng, có gắn số sim 0784226519 của Trần Văn T.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, có gắn số sim 0876659585 của Hồ Thanh T1.
Đề nghị tịch thu bị cáo Trần Văn T số tiền 1.050.000 đồng do bán ma túy để sung ngân sách nhà nước.
Đề nghị tịch thu bị cáo Hồ Thanh T1 số tiền 650.000 đồng do bán ma túy để sung ngân sách nhà nước.
Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím, có gắn số sim 0522707127.
Các bị cáo trình bày: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt người làm chứng Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1: Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1 đã có lời khai nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Hội đồng xét xử nhận thấy:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện B phối hợp với Công an thị trấn L bắt quả tang đối với Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1, thu giữ 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín, kích thước (0,2 x 01)cm, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn, màu trắng, kết quả giám định chất thu giữ có khối lượng 0,0525 gam là Methamphetamine. Quá trình điều tra, lời khai của các bị cáo, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa xác định, số ma túy này do các bị cáo Trần Văn T và Hồ Thanh T1 vừa bán cho Nguyễn Minh T4 vào cùng ngày tại khu vực Xóm M thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận, với giá 200.000 đồng.
Ngoài lần này, trước đó vào ngày 11/6/2024, Nguyễn Minh T4 cũng hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì bị cáo T đồng ý, rồi bị cáo T lấy 01 tép ma túy đưa cho bị cáo T1 để giao cho Nguyễn Minh T4. Sau đó, bị cáo T1 nhờ bị cáo Nguyễn Thành L lấy xe mô tô biển số 86B2-470.67 chở bị cáo T1 đi bán ma túy cho T4 giúp bị cáo T thì bị cáo L đồng ý. Tại khu vực Xóm M thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện B, bị cáo T1 đã giao ma túy cho Nguyễn Minh T4 và lấy số tiền 200.000 đồng đem về giao cho bị cáo T.
Khi mua ma túy thì chỉ có một mình Nguyễn Minh T4 liên hệ và giao tiền cho các bị cáo, T4 không nói cho các bị cáo biết số tiền mua ma túy do Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1 góp chung để mua.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn T đã 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Minh T4; bị cáo Hồ Thanh T1 02 lần giúp sức cho bị cáo Trần Văn T bán ma túy cho Nguyễn Minh T4; bị cáo Nguyễn Thành L 01 lần giúp sức cho bị cáo Trần Văn T bán ma túy cho Nguyễn Minh T4.
Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1, Nguyễn Thành L không có sự phân công vai trò, liên kết chặt chẽ nên các bị cáo là đồng phạm giản đơn trong vụ án.
Do đó, hành vi của các bị cáo Trần Văn T và Hồ Thanh T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); hành vi của bị cáo Nguyễn Thành L đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố các bị cáo.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1, Nguyễn Thành L thành khẩn khai báo, có nhân thân tốt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không có.
[6] Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1, Nguyễn Thành L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải nghiêm trị, dành cho các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Đối với hành vi tàng trữ ma túy 0,0525 gam là Methamphetamine của Nguyễn Minh T4 và Đinh Mỹ X1: Quá trình điều tra, xác định Nguyễn Minh T4, Đinh Mỹ X1 không có tiền án, tiền sự, khối lượng ma túy chưa đủ định lượng nên chưa đủ yếu tố cấu thành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển vụ việc cho Trưởng Công an huyện B xử lý hành chính theo quy định là phù hợp.
Đối với nguồn gốc ma túy mà bị cáo Trần Văn T bán cho Nguyễn Minh T4: Bị cáo T khai mua từ một người (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực gần cây xăng số I, thành phố P. Qua xác minh do không đủ thông tin nên chưa xác định được người đã bán ma túy cho bị cáo T. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
[8] Về biện pháp tư pháp:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu trắng, có gắn sim số 087.870.5xxx thu giữ của Nguyễn Minh T4: Điện thoại này là của bà Nguyễn Thị Hiền M (là mẹ T4), T4 tự ý lấy sử dụng, bà M không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B trả lại cho bà M là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô biển số 86B2-027.06, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen thu giữ của Đinh Mỹ X1: Đây là xe mô tô ông Đinh Mỹ Đ (là cha X1) mua lại của ông Lưu Văn T7 nhưng chưa làm thủ tục sang tên, X1 tự ý lấy sử dụng không xin phép ông Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho ông Đ là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô biển số 86C1-901.36, nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu trắng đen: Quá trình điều tra, xe mô tô trên là của là ông Lâm Hoàng Q (sinh năm 1997; trú tại khu phố L, thị trấn L, huyện B) mua lại từ cửa hàng bán xe do ông Nguyễn Minh T8 là chủ cửa hàng, T8 mua lại của bà Lê Thị T9 (là người đứng tên giấy tờ xe), sau đó T8 bán lại cho ông Q và ông Q có mang đến tiệm sửa xe của bị cáo Trần Văn T để sửa nhưng chưa lấy thì bị cáo T tự ý sử dụng không xin phép ông Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho ông Q là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô biển số 86B2-750.77, nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ và 01 xe mô biển số 86B2-470.67, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen do bị cáo Hồ Thanh T1 điều khiển thực hiện hành vi phạm tội mua bán ma túy: Quá trình điều tra xác định 02 xe mô tô là của ba mẹ ruột bị cáo T1 đứng tên và bị cáo T1 tự ý lấy sử dụng, ba mẹ của T1 không biết, 02 xe mô tô trên Cơ quan điều tra không tạm giữ nên không xem xét xử lý trong vụ án.
Đối với 01 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu; 0,0392 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 669, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, Hội đồng xét xử nhận thấy nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng, có gắn số sim 0784226519 của bị cáo Trần Văn T.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, có gắn số sim 0876659585 của bị cáo Hồ Thanh T1.
Đây là công cụ mà các bị cáo T, T1 liên lạc thực hiện hành vi bán ma túy vào các ngày 11/6/2024, 12/6/2024 nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím, có gắn số sim 0522707127 của bị cáo Nguyễn Thành L, do không liên quan đến hành vi phạm tội mua bán ma túy vào ngày 11/6/2024, 12/6/2024 nên cần trả lại cho bị cáo L.
Đối với số tiền 400.000 đồng mà bị cáo Trần Văn T nhận được từ việc bán ma túy cho Nguyễn Minh T4 và Đinh Mỹ X1 vào ngày 11/6/2024, 12/6/2024: Đây là tiền thu lợi bất chính nên buộc bị cáo Trần Văn T nộp lại sung ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền thu lợi bất chính từ hoạt động bán ma túy trước ngày 11/6/2024, 12/6/2024 mà các bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1 thừa nhận đã hưởng lợi tổng cộng 1.300.000 đồng, mỗi bị cáo đã chia nhau hưởng lợi là 650.000 đồng, quá trình điều tra do không xác định được bán ngày nào, bán cho ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, tuy nhiên các bị cáo thừa nhận đây là tiền thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1, mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền 650.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí: Mỗi bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1, Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1, Nguyễn Thành L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2024.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Thanh T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2024.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2024.
Căn cứ vào: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: 01 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu; 0,0392 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 669, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng, có gắn số sim 0784226519 của bị cáo Trần Văn T và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, có gắn số sim 0876659585 của bị cáo Hồ Thanh T1.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím, có gắn số sim 0522707127.
(Các vật chứng này hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2024).
Buộc bị cáo Trần Văn T nộp lại số tiền 1.050.000 đồng; bị cáo Hồ Thanh T1 nộp lại số tiền 650.000 đồng, là tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo Trần Văn T, Hồ Thanh T1, Nguyễn Thành L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/12/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hoàng Huy |
12
Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 141/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
