Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 141/2024/HS-ST

Ngày: 05-12-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ma Quốc Thể.
  2. Ông Trần Hữu Lượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Vân Kiều - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 133/2024/TLST- HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 07/TB-TA ngày 27/11/2024, đối với bị cáo:

Mông Văn B, sinh ngày 16/6/1991 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mông Chí B1, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Dương Thị H, sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có; anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến ngày 06/10/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh cho tới nay (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng năm 2017, Mông Văn B quen biết với Nông Minh T, sinh năm 1989 trú tại C Tòa nhà R V, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội. Quá trình quen biết nhau B và T thường liên lạc với nhau qua ứng dụng Telegram, tên tài khoản Telegram của B là “C” đăng ký bằng số điện thoại +84981989919, tên tài khoản Telegram của T là “helo1199” đăng ký bằng số điện thoại +84961068686 (B lưu danh bạ “Anh Tú Thổ").

Khoảng cuối tháng 06/2024, T đang kinh doanh bất động sản tại thành phố Hồ Chí Minh và quen biết một người nam giới tên D tự giới thiệu quê ở tỉnh Ninh Bình (không xác định thông tin tên, tuổi, địa chỉ). D giới thiệu cho T biết đến ứng dụng game bài “X-Poker” trên điện thoại di động thông minh. Sau đó, T dùng điện thoại của T tải ứng dụng game bài “X- Poker” đăng ký tạo lập tài khoản và chơi các trò poker miễn phí mà không cần nạp tiền thật để đổi chip. T không tham gia câu lạc bộ nào trên game bài “X- Poker", không tham gia đánh bạc đổi thưởng trên game bài “X-Poker". Ứng dụng game bài “X-Poker” cho phép chơi các trò chơi poker giải trí miễn phí, ngoài ra còn cho phép người chơi tạo ra các câu lạc bộ để tham gia chơi với nhau, chủ câu lạc bộ và các tài khoản quản lý có thể chuyển điểm hoặc lấy lại điểm từ các thành viên trong câu lạc bộ. Lợi dụng vào hình thức tổ chức này, một số đối tượng tổ chức đánh bạc trái phép. Để có điểm tham gia đặt cược thành viên phải yêu cầu nạp điểm vào tài khoản qua chủ câu lạc bộ hoặc cấp quản lý. Chủ câu lạc bộ hoặc cấp quản lý bán điểm cho người chơi tương ứng với tiền thực của người chơi, tỷ lệ quy đổi thường là 1:1 (ví dụ: 1 chip tương đương 1.000 VNĐ). Sau khi cá cược và có nhu cầu muốn đổi điểm còn lại trong tài khoản của mình thành tiền mặt thì người chơi lại liên hệ chủ câu lạc bộ hoặc cấp quản lý để bán điểm, tỷ lệ quy đổi là 1:1.

Quá trình nói chuyện qua ứng dụng Telegram, T giới thiệu cho B biết đến ứng dụng game bài "X-Poker". B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, tên kiểu máy Iphone 12 Pro Max, vỏ màu vàng, tải về ứng dụng game bài "X-Poker". B tìm hiểu, đăng nhập vào ứng dụng "X-Poker" qua tài khoản Facebook của B tên "C” và tạo lập tài khoản “TÔMĐÚ99"; ID "403675" để chơi poker miễn phí. Cùng thời điểm này T đang kinh doanh tại thành phố Hồ Chí Minh, D nói với Tú tài khoản ngân hàng của D bị lỗi và điện thoại bị hỏng nên hỏi mượn T điện thoại và tài khoản ngân hàng của T để sử dụng, T đồng ý, đưa thông tin tài khoản, mật khẩu đăng nhập Internet Banking đối với tài khoản ngân hàng TMCP K (T3), số tài khoản 2262299999 và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng, lắp sim số 0961068686 của T cho D mượn. Trong điện thoại di động T cho D mượn những ứng dụng mạng xã hội như Facebook, Z, T1,... đều ở trạng thái đăng nhập sẵn tài khoản của T, T vẫn chưa đăng xuất ra. Ngày 01/07/2024, B nhắn tin với tài khoản Telegram "helo1199" do D đang sử dụng nói chuyện về game bài "X-Poker". Sau đó, tài khoản T1 "helo1199" gửi cho B mã câu lạc bộ “2026401" (ID) và mã giới thiệu "454980" để B tham gia vào câu lạc bộ “TOKYO CLUB" (B không biết câu lạc bộ này do T tự tạo hay do ai tạo ra) đánh bạc chơi poker và hướng dẫn B nếu muốn mua chip để đánh bạc trong câu lạc bộ thì nhắn tin qua tài khoản Telegram "helo1199" và chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng T3 số tài khoản 2262299999 của T, B đồng ý và sử dụng tài khoản ngân hàng TMCP C (V) của B số [...] chuyển thành công số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng TMCP K (T3) của T số 2262299999, chuyển tiền lúc 22 giờ 22 phút 55 giây ngày 01/7/2024. Đến hồi 22 giờ 29 phút ngày 01/07/2024, tài khoản game bài “X-poker” của B được tài khoản tên “Lôi Lạc” chuyển đến "+5,000" chip (1 chip tương đương 1.000 VNĐ). Sau khi có điểm thì Bình chọn bàn có ID: 17197879866561322 trong câu lạc bộ “TOKYO CLUB” để chơi poker với mức đặt cược 25/50, có nghĩa là góp gà 25 chip tương ứng 25.000 đồng và 50 chip tương ứng 50.000 đồng. Tổng cộng B đặt cược 89 ván, có ván thắng ván thua, cuối cùng thua hết 5.000 chip (tương ứng với số tiền 5.000.000 đồng) thì B dừng, không chơi nữa.

Đối chiếu sao kê chi tiết giao dịch tài khoản ngân hàng TMCP C (V1) chi nhánh T4 và ngân hàng TMCP K (T3) chi nhánh T5 với lịch sử chơi trong tài khoản game của B là phù hợp.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, kiểu máy Iphone 12 Pro Max, vỏ màu vàng, số sê-ri: G0NFJM1H0D41, số máy: MG9D3LL/A, số IMEI: 35 0916563 900068 1, số IMEI2: 35 901563 906090 9, lắp sim vật lý của nhà mạng Viettel, trên sim có dãy chữ và số: 8984 04800 03236 16378 4G Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng, tình trạng còn lên nguồn điện, sử dụng nghe, gọi và truy cập được vào internet của Mông Văn B.

Cáo trạng số 136/CT-VKSSD, ngày 23/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Mông Văn B về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Mông Văn B phạm tội “Đánh bạc”.
  • - Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Mông Văn B 03 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, kiểu máy Iphone 12 Pro Max, vỏ màu vàng, số sê-ri: G0NFJM1H0D41, số máy: MG9D3LL/A, số IMEI: 35 0916563 900068 1, số IMEI2: 35 901563 906090 9, lắp sim vật lý của nhà mạng Viettel, trên sim có dãy chữ và số: 8984 04800 03236 16378 4G Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 22 giờ 22 phút 55 giây ngày 01/7/2024, tại thôn L, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Mông Văn B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu vàng kết nối mạng internet, thông qua tài khoản ngân hàng TMCP C (V1) số tài khoản 108886618866 của B, thực hiện hành vi chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng TMCP K (T3) số tài khoản 2262299999 của Nông Minh T, mục đích để quy đổi sang chip trong game và tham gia đánh bạc được thua bằng tiền trên ứng dụng Game bài X-Poker. B đặt cược 89 ván, có ván thắng ván thua, cuối cùng thua hết 5.000 chíp (tương ứng với số tiền 5.000.000 đồng) thì B dừng, không chơi nữa.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Mông Văn B về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[2] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng và an ninh mạng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã lợi dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, lợi dụng việc cá cược được thua bằng tiền trong các trò chơi trên không gian mạng nhằm mục đích thu lợi cho bản thân. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là Mông Chí T2 được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba; bị cáo có đóng góp kinh phí xây dựng, phát triển, hoàn thành các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thôn C, xã H, huyện S. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo để có mức án phù hợp.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội lần đầu, đánh bạc với số tiền ít nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[4] Về vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu vàng của bị cáo là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Về các vấn đề khác:

Đối với Nông Minh T cho người nam giới tên D mượn điện thoại và tài khoản ngân hàng nhưng T không biết mục đích sử dụng của D nên không có căn cứ xử lý.

Đối với người nam giới tên D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành xác minh và áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ: Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Mông Văn B phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Mông Văn B 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/12/2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ các Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, kiểu máy Iphone 12 Pro Max, vỏ màu vàng, số sê-ri: G0NFJM1H0D41, số máy: MG9D3LL/A, số IMEI: 35 0916563 900068 1, số IMEI2: 35 901563 906090 9, lắp sim vật lý của nhà mạng Viettel, trên sim có dãy chữ và số: 8984 04800 03236 16378 4G Viettel, được niêm phong trong 01 phong bì kín có 03 hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S có chữ ký xác nhận của các thành phần tham gia. Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

- Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - UBND xã Hợp Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Ma Quốc Thể - Trần Hữu Lượng

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 141/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc trên không gian mạng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger