|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 141/2024/HS-ST Ngày 18/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Chữ
<p style="text-align: justify; margin-top: 6pt; margin-bottom: 6pt;">Tiền án: Tại bản án số 203/2023/HSST ngày 05/9/2013 của Tòa án nhân dân
thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
phạt bổ sung 5.000.000 đồng và án phí 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù
ngày 23/5/2015, đã chấp hành xong tiền án phí, chưa chấp hành tiền phạt bổ sung.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà
- Bị hại: Trung tâm viễn thông huyện L do ông Ô Nguyễn Thanh H, sinh năm 1983 – Cán bộ thuộc Trung tâm viễn thông huyện L là người đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 18/7/2024, T mang theo 01 đoạn gậy tre có móc sắt ở đầu gậy, có tổng chiều dài 150cm, chiều dài gậy tre là 144cm, đường kính 2,3cm và 01 kìm sắt, có tay bọc bằng nhựa màu đỏ, đen, chiều dài 8,6cm đi bộ từ nhà đi theo đường Q (hướng đi thị trấn C), mục đích để tìm cắt dây điện tại các cột điện trên đường. Khi T đến ngã tư cơ khí thì rẽ vào đường đi Trung tâm y tế huyện L thuộc Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L. Khi đến khu vực trung tâm y tế huyện L T phát hiện thấy khu vực này có nhiều dây điện, vỏ nhựa màu đen (loại dây thuê bao điện thoại bàn) của Trung tâm viễn thông huyện L ở trên cột điện. T dùng gậy tre mang theo móc dây thuê bao từ trên cột xuống, sau đó dùng tay kéo dây điện xuống rồi dùng kìm cắt thành nhiều đoạn. Quá trình T cắt dây điện thì có anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1983, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L (là cán bộ thuộc Trung tâm Viễn thông huyện L) phát hiện, yêu cầu T dừng lại. Sau đó T không cắt nữa và cầm số dây điện vừa cắt được cho vào 01 bao tơ dứa màu trắng nhặt ở rìa đường rồi đi bộ ra hướng Quốc lộ C để về nhà. Còn anh H đã làm đơn trình báo đến Công an thị trấn C. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo của anh H, Công an thị trấn C đã tiến hành đưa Vi Văn T về trụ sở Công an thị trấn C lập biên bản vụ việc, thu giữ các tài sản, đồ vật gồm: 01 bao tơ dứa có đựng các cuộn dây viễn thông màu đen (có tổng chiều dài là 219m), 01 kìm sắt bọc tay cầm bằng nhựa màu đỏ đen có chiều dài 8,6cm; 01 đoạn gậy tre có móc sắt ở đầu gậy có tổng chiều dài 150cm, chiều dài gậy tre là 144cm, đường kính 2,3cm.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành xác định hiện trường là khu vực cột điện tại vị trí tiếp giáp giữa Trung tâm y tế huyện L với quầy thuốc số 09 thuộc Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, cột điện ký hiệu 471.E78 trên vỉa hè có chiều rộng 2,5m là vị trí T xác định bắt đầu thực hiện hành vi cắt lấy dây thuê bao điện thoại, sau đó T cắt dây đến vị trí cách hàng rào cạnh số nhà D là 1,5m, khoảng cách từ vị trí đầu đến vị trí cuối là 11m.
Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra yêu cầu định giá tài sản đối với số dây thuê bao điện thoại đã thu giữ. Tại bản kết luận định
giá tài sản số 84 ngày 26/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 219 mét dây thuê bao điện thoại có trị giá là 61.280 đồng.
Tại cơ quan điều tra Vi Văn T khai trước đó khoảng 1 tuần, T có gặp và hỏi một nhân viên của Trung tâm V (T không biết cụ thể là ai) tại đoạn đường T, thị trấn C để xin cắt dây thuê bao điện thoại thì người đó nói “dây thừa thì cho” nên ngày 18/7/2024, T đi cắt dây thuê bao điện thoại mục đích để đem về nhà sử dụng. Ngày 02/8/2024 Trung tâm Viễn thông huyện L có Công văn số 138/CV- TTVTLNG xác định: 219 mét dây thuê bao điện thoại do Cơ quan Công an thu giữ trong vụ việc trên là tài sản của Trung tâm V trông coi quản lý, dùng cho lắp đặt máy điện thoại bàn và công nghệ ADSL cho khách hàng. Những dây viễn thông này không còn được sử dụng do đã thay đổi công nghệ mới, loại dây mới. Tuy nhiên không phải là tài sản thừa, bỏ đi hoặc không dùng đến. Qua các báo cáo của từng nhân viên kỹ thuật Trung tâm viễn thông huyện L, trong thời gian trước ngày 18/7/2024 xác định tại khu vực TDP T, thị trấn C hoặc trên địa bàn thị trấn C, huyện L không có nhân viên kỹ thuật nào đồng ý cho đối tượng Vi Văn T cắt hay lấy những đoạn dây thuê bao điện thoại như trên.
Về vật chứng vụ án: 01 bao tơ dứa có đựng các cuộn dây viễn thông màu đen (có tổng chiều dài là 219m), 01 kìm sắt bọc tay cầm bằng nhựa màu đỏ đen có chiều dài 8,6cm; 01 đoạn gậy tre có móc sắt ở đầu gậy có tổng chiều dài 150cm, chiều dài gậy tre là 144cm, đường kính 2,3cm được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Trung tâm viễn thông huyện L không yêu cầu Vi Văn T bồi thường.
Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số: 131/CT-VKS-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Vi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án của những người này và công bố bản kết luận định giá tài sản. Bị cáo Vi Văn T không có ý kiến gì về lời khai của những người này và bản kết luận định giá tài sản.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Vi Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:
1.Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn T từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 09/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ các cuộn dây viễn thông màu đen có tổng chiều dài là 219m đựng trong một bao tơ dứa, 01 kìm sắt bọc tay cầm bằng nhựa màu đỏ đen có chiều dài 8,6cm; 01 đoạn gậy tre có móc sắt ở đầu gậy có tổng chiều dài 150cm, chiều dài gậy tre là 144cm, đường kính 2,3cm.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn cho bị cáo Vi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên đại diện theo uỷ quyền của bị hại là ông Nguyễn Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của ông H không làm ảnh hưởng đến vụ án. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người này.
[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố: Tại phiên toà bị cáo Vi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, tang vật chứng thu được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vi Văn T trong khoảng 15 giờ 40 phút ngày 18/7/2024, tại vị trí cột điện ký hiệu 471.E78 ở Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, Vi Văn T đã có hành vi dùng gậy tre, có gắn móc sắt ở đầu gậy và 01 kìm bằng sắt, có tay cầm bằng nhựa cắt trộm 219m (hai trăm mười chín
mét) dây thuê bao điện thoại, trị giá 61.280 đồng của Trung tâm V. Ngày 19/10/2022 bị cáo đã bị UBND thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền là 2.500.000 đồng, hiện bị cáo chưa chấp hành Quyết định xử phạt trên, mặc dù giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là thấp dưới mức 2.000.000 đồng nhưng bị cáo có 01 tiền án, 01 tiền sự nên lần phạm tội này của bị cáo Vi Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Xét nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo Vi Văn T là người có nhân thân xấu. Tại bản án số 203/2013/HSST ngày 05/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng và án phí 200.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2015, đã chấp hành xong tiền án phí, nhưng chưa chấp hành tiền phạt bổ sung; Ngày 19/10/2022 bị cáo bị UBND thị trấn C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” hiện bị cáo vẫn chưa chấp hành quyết định xử phạt. Ngoài ra ngày 26/3/2019 bị cáo còn bị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn T trong thời hạn 24 tháng.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp “Tái phạm”).
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo là cắt dây thuê bao điện thoại, có thể gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân và doanh nghiệp nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn C xử phạt Vi Văn T số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, và bị Toà án nhân huyện L ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để thay đổi mà còn tiếp tục phạm tội. Do vậy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với hành vi, tính chất, nhân thân và các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên cần được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Trung tâm viễn thông huyện L không yêu cầu Vi Văn T bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Về xử lý vật chứng:
- Đối 01 bao tơ dứa có đựng các cuộn dây viễn thông màu đen có tổng chiều dài là 219m đại diện của bị hại – Ông Nguyễn Thanh H – Cán bộ thuộc Trung tâm viên thông huyện L không có yêu cầu xin lại và cũng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 kìm sắt bọc tay cầm bằng nhựa màu đỏ đen có chiều dài 8,6cm; 01 đoạn gậy tre có móc sắt ở đầu gậy có tổng chiều dài 150cm, chiều dài gậy tre là 144cm, đường kính 2,3cm được sử dụng vào mục đích phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[11] Về án phí: Bị cáo Vi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn T 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ các cuộn dây viễn thông màu đen có tổng chiều dài là 219m đựng trong một bao tơ dứa, 01 kìm sắt bọc tay cầm bằng nhựa màu đỏ đen có chiều dài 8,6cm; 01 đoạn gậy tre có móc sắt ở đầu gậy có tổng chiều dài 150cm, chiều dài gậy tre là 144cm, đường kính 2,3cm.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Ngạn; - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang; - Công an huyện Lục Ngạn; - UBND thị trấn Chũ, Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; - Bị cáo, bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thu Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Giáp Văn Phẩm – Phạm Văn Chữ |
Lê Thu Hà |
7
Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 141/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn T trộm cắp
