Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 141/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 10 - 2024.

Về việc tranh chấp: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Hoàng Mích.

Ông Bùi Tuấn Khanh.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lanh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 414/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 212/2024/QĐST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thi N, sinh ngày 20/10/1979 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã D, huyện D, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn C, sinh ngày 07/3/1976 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã D, huyện D, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 06/8/2024, bản tự khai ngày 04/9/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thi N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh C do mai mối mới quen biết nhau nhưng sau đó hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân, cưới nhau vào năm 1996 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vang Quới Đông vào năm 2003. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C thường xuyên nhậu nhẹt, về chửi bới, xúc phạm gia đình bên vợ, dù chị đã nhiều lần khuyên năn nhưng anh C vẫn không thay đổi và đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu ly hôn với anh C.

- Về nuôi con chung: Có 02 chung tên:

  1. Huỳnh Thị Hoàng L, sinh ngày 17/8/2001.
  2. Huỳnh Thị Duy C, sinh ngày 26/9/2009.

Hiện nay cháu L đã thành niên, có khả năng lao động nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với cháu Ca, chị yêu cầu theo nguyện vọng của con, muốn sống với ai thì người đó nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Đối với anh Huỳnh Văn C là bị đơn, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng anh đều vắng mặt, mặc dù anh vẫn còn sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai của anh.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tuân theo đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa là không thực hiện theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh C. Về con chung: Cháu Huỳnh Thị Hoàng L, sinh ngày 17/8/2001 đã thành niên và có khả năng lao động, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến. Đối với cháu Huỳnh Thị Duy C, sinh ngày 26/9/2009 giao cho anh C nuôi dưỡng và phù hợp với nguyện vọng của cháu và chị N không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến. Về nợ chung: Không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1]. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Huỳnh Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh C là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh C cưới nhau vào năm 1996 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vang Quới Đông vào năm 2003 theo đúng quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh C được công nhận hợp pháp.

Nay chị N yêu cầu ly hôn, anh C vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong đó có biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cũng như lời khai của chị N trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C thường xuyên nhậu nhẹt, về chửi bới, xúc phạm gia đình bên vợ, dù chị đã nhiều lần khuyên năn nhưng anh C vẫn không thay đổi và đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay.

Hơn nữa, Toà án đã tiến hành mời chị N và anh C để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh C vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh C đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.

Qua đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị N và anh C đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẽ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu câu ly hôn của chị N là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về nuôi con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị N và anh C có 02 con chung tên:

  1. Huỳnh Thị Hoàng L, sinh ngày 17/8/2001.
  2. Huỳnh Thị Duy C, sinh ngày 26/9/2009.

Đối với cháu L đã thành niên, có khả năng lao động nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với cháu Duy C, chị N yêu cầu theo nguyện vọng của con muốn sống với ai thì người đó trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với cháu Huỳnh Thị Hoàng L, sinh ngày 17/8/2001 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Đối với cháu Huỳnh Thị Duy C, sinh ngày 26/9/2009. Xét thấy, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Duy C, từ trước đến nay cháu sống chung với anh C và chị N và việc anh chị nuôi con chung vẫn phát triển bình thường. Tuy nhiên, tại thời điểm giải quyết ly hôn giữa chị N và anh C, thì cháu Duy C đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng sống với anh C; chị N cũng đồng ý theo nguyện vọng của con, muốn sống với ai thì người đó nuôi, nên để nhằm ổn định về tinh thần con chung của anh và chị và phù hợp với nguyện vọng của cháu Duy C, cân để cháu Duy C cho anh C nuôi dưỡng cũng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận để con chung cho anh C nuôi dưỡng.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N đồng ý để anh C nuôi con chung và chị không cấp dưỡng nuôi con, do anh C vắng mặt nên không có ý kiến hay yêu cầu về cấp dưỡng, nhưng khi cần thiết anh C có quyền khởi kiện yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con bằng 01 vụ án dân sự khác.

[5]. Về tài sản chung: Chị N khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[6]. Về nợ chung: Chị N khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[7]. Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại về quan điểm giải quyết vụ án: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thi N đối với anh Huỳnh Văn C.

    Cho ly hôn giữa chị Trần Thi N và anh Huỳnh Văn C.

    Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thi N và anh Huỳnh Văn C chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên là Huỳnh Thị Hoàng L, sinh ngày 17/8/2001 và Huỳnh Thị Duy C, sinh ngày 26/9/2009.
    1. Đối với cháu Huỳnh Thị Hoàng L, sinh ngày 17/8/2001 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến.
    2. Giao con chung Huỳnh Thị Duy C, sinh ngày 26/9/2009 cho anh Huỳnh Văn C trực tiếp nuôi dưỡng và phù hợp với nguyện vọng của cháu Duy C và chị N không cấp dưỡng nuôi con.

    Chị Trần Thi N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Anh Huỳnh Văn C trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Trần Thi N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Chị N khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không xét đến.
  4. Về nợ chung: Chị N khai không có, nên không xét đến.
  5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

    Chị Trần Thi N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003908 ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Như vậy, chị Trần Thi N đã nộp đủ án phí.

    Chị Trần Thi N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Huỳnh Văn C vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (phòng KTNV và THA);
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Đại;
  • - UBND xã Vang Quới Đông
  • (Số 51, ngày 21/09/2003);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Mỹ Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HNGĐ-ST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 141/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị yêu cầu ly hôn với anh C. - Về nuôi con chung: Có 02 chung tên: 1. Huỳnh Thị Hoàng L, sinh ngày 17/8/2001. 2. Huỳnh Thị Duy C, sinh ngày 26/9/2009. Hiện nay cháu L đã thành niên, có khả năng lao động nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Ca, chị yêu cầu theo nguyện vọng của con, muốn sống với ai thì người đó nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về nợ chung: Không có.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger