Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 141/2024/DS-ST

Ngày 28 tháng 9 năm 2024

V/v "Tranh chấp chia di sản thừa kế"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sanh

Ông Phạm Thị Thùy Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 349/2023/TLST-DS ngày 10/11/2023 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/2024/QĐXXST-DS ngày 05/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 349/2024/QĐST-DS ngày 26/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1934; Địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng;

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1961 và Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Cùng địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền ngày 01/11/2023). Bà C, bà H có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị H1- Luật sư Công ty L5; Có mặt;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1964; Địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Trần Văn Đ – Luật sư thuộc đoàn Luật sư thành phố Đ; Có mặt;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số A H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng;
  2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; Địa chỉ: Tổ B, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng;
  3. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1961; Địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1962; Địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
  5. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ A, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
  6. Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1969; Địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng;
  7. Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1971; Địa chỉ: K đường V, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
  8. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng;
  9. Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H3 là bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị H (Theo Giấy ủy quyền ngày 27/11/2023); Bà C, bà H có mặt.

  10. Bà Phạm Thị G, sinh năm 1971; Địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt;
  11. Anh Nguyễn Như T, sinh năm 1996; Địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng; Có mặt;
  12. Anh Nguyễn Như D, sinh năm 2005; Địa chỉ: K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Nguyễn Thị H1 và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:

Sinh thời chồng bà Nguyễn Thị B là ông Nguyễn Văn T1 cùng bà B tạo lập được khối tài sản là nhà và đất tại K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Ông Nguyễn Văn T1 mất ngày 15/12/2013, không để lại di chúc. Ông T1 và bà B sinh được 09 người con là Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H3. Ông T1 và bà B không có con nuôi hay con riêng nào khác, cha mẹ ông T1 là ông Nguyễn Văn T2 đã chết năm 1946, bà Đặng Thị L3 đã chết năm 1974. Quá trình sinh sống trong gia đình xảy ra nhiều mâu thuẫn, bà B đã nhiều lần hòa giải để phân chia cho các con nhưng ông Nguyễn Văn A không đồng ý nên bà B làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T1 theo pháp luật đối với ½ nhà và đất tại địa chỉ K (cũ) K586/15 (mới) đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng.

- Bà Nguyễn Thị B yêu cầu trừ chi phí quản lý di sản và công sức đóng góp vào di sản thừa kế cho bà Nguyễn Thị C số tiền 600.000.000đ; bà Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H3 số tiền 70.000.000₫.

Bà B thống nhất với Chứng thư thẩm định giá số 430/2024/307 ngày 23/8/2024 của Công ty cổ phần T3. Theo chứng thư thì tôi đồng ý chia phần di sản thừa kế của ông T1 để lại là ½ nhà và đất tại địa chỉ K (cũ) K586/15 (mới) đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng theo quy định pháp luật. Bà B có nguyện vọng được nhận nhà và thối trả kỉ phần cho các đồng thừa kế.

* Tại bản tự khai, các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn luật sư Trần Văn Đ và bị đơn ông Nguyễn Văn A trình bày:

Ông Nguyễn Văn A xác định cha mẹ ông A là ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B có một căn nhà tại K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Cha ông là ông T1 mất ngày 15/12/2013. Cha mẹ ông A có 09 người con là Nguyễn Thị H2, NguyễnThị Lài, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H3. Vợ chồng bà B không có con nuôi hay con riêng nào khác, cha mẹ ông T1 là ông Nguyễn Văn T2 đã chết năm 1946, bà Đặng Thị L3 đã chết năm 1974.

Nguồn gốc nhà và đất nói trên là của ông bà nội của ông Nguyễn Văn A là ông Nguyễn Văn T2 và bà Đặng Thị L3 để lại cho cha mẹ ông A là ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B mục đích để làm nhà thờ tự ông bà tổ tiên, không phải nhà đất do cha mẹ tôi tạo lập nên. Ngày 23/12/2023, tôi được bà Nguyễn Thị B cho 40m2 có viết Đơn cho tài sản con trai để tôi làm nhà thờ tổ tiên. Hiện nay tại nhà và đất nói trên có bà B, gia đình ông A là vợ bà Phạm Thị G, 02 con là ông Nguyễn Như T và ông Nguyễn Như D cùng con dâu, gia đình bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Đ1 đang sinh sống.

Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị B ông A không đồng ý. Ông A có nguyện vọng được giữ lại 40m² để xây dựng nhà làm nơi thờ cúng tổ tiên còn phần di sản thừa kế của ông T1 khi mất không để lại di chúc thì yêu cầu phân chia theo quy định của pháp luật.

Ông A thống nhất với Chứng thư thẩm định giá số 430/2024/307 ngày 23/8/2024 của Công ty cổ phần T3.

* Tại bản tự khai, đơn yêu cầu độc lập, các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C trình bày:

Tôi là con gái bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T1. Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B có một căn nhà tại K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Cha tôi là ông T1 mất ngày 15/12/2013, không để lại di chúc. Cha mẹ tôi có 09 người con là Nguyễn Thị H2, NguyễnThị Lài, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H3. Cha mẹ tôi không có con nuôi hay con riêng nào khác, cha mẹ ông T1 là ông Nguyễn Văn T2 đã chết năm 1946, bà Đặng Thị L3 đã chết năm 1974. Hiện nay gia đình chúng tôi có nhiều người sinh sống nên nảy sinh mâu thuẫn, mẹ tôi tuổi già sức yếu nên không chịu được áp lực từ phía gia đình nhà ông A nên mẹ tôi làm đơn khởi kiện phân chia di sản thừa kế cho cha tôi để lại. Tôi đồng ý với yêu cầu khởi kiện của mẹ tôi là bà Nguyễn Thị B.

Theo nội dung đơn khởi kiện mẹ tôi đã trình bày thì vào năm 1988 tôi làm ăn có tiền nên về xây dựng phần phía sau nhà cho cha mẹ và các em tôi sinh sống; tôi đã bỏ ra 21.000.000₫ (Hai mươi mốt triệu đồng) tương đương với 70 chỉ vàng; đến tháng 3 năm 1993 cha mẹ tôi gặp khó khăn có vay tiền của bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1959; Địa chỉ: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam số vàng 24 chỉ, đến tháng 4/1993 tôi đứng ra trả cho bà S thay cho cha mẹ tôi 24 chỉ vàng có sự xác nhận của bà S và các chị em trong gia đình. Mẹ tôi yêu cầu thối trả phần đóng góp của tôi và tôi đã làm đơn yêu cầu độc lập với nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết trích phần chi phí tôn tạo di sản và công sức đóng góp vào di sản thừa kế là nhà và đất tại địa chỉ K (cũ) K586/15 (mới) đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng với số tiền 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng). Tuy nhiên đến nay tôi suy nghĩ lại, tôi không yêu cầu đối với chi phí đóng góp này nữa. Tôi thống nhất với Chứng thư thẩm định giá số 430/2024/307 ngày 23/8/2024 của Công ty cổ phần T3 và yêu cầu Tòa án phân chia di sản do ba tôi để lại theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H3 trình bày:

Tôi là con gái bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T1. Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B có một căn nhà tại K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Cha tôi là ông T1 mất ngày 15/12/2013, không để lại di chúc. Cha mẹ tôi có 09 người con là Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H3. Cha mẹ tôi không có con nuôi hay con riêng nào khác, cha mẹ ông T1 là ông Nguyễn Văn T2 đã chết năm 1946, bà Đặng Thị L4 đã chết năm 1974. Hiện nay gia đình chúng tôi có nhiều người sinh sống nên nảy sinh mâu thuẫn, mẹ tôi tuổi già sức yếu nên không chịu được áp lực từ phía gia đình nhà ông A nên mẹ tôi làm đơn khởi kiện phân chia di sản thừa kế cho cha tôi để lại. Tôi đồng ý với yêu cầu khởi kiện của mẹ tôi là bà Nguyễn Thị B.

Theo nội dung đơn khởi kiện mẹ tôi đã trình bày thì Năm 1993, bà Nguyễn Thị H3 đã bỏ ra số tiền 5.000.000đ tương đương với 12 chỉ vàng để xây dựng cửa hàng phía trước nhà để 3 chị em làm ăn trang trải cuộc sống hằng ngày cho gia đình. Mẹ tôi yêu cầu thối trả phần đóng góp của tôi và tôi đã làm đơn yêu cầu độc lập với nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết trích phần chi phí tôn tạo di sản và công sức đóng góp vào di sản thừa kế là nhà và đất tại địa chỉ K (cũ) K586/15 (mới) đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng với số tiền 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng). Tuy nhiên đến nay tôi suy nghĩ lại, tôi không yêu cầu đối với chi phí đóng góp này nữa. Tôi thống nhất với Chứng thư thẩm định giá số 430/2024/307 ngày 23/8/2024 của Công ty cổ phần T3 và yêu cầu Tòa án phân chia di sản do ba tôi để lại theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ1 trình bày:

Tôi là con gái bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T1. Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B có một căn nhà tại K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Cha tôi là ông T1 mất ngày 15/12/2013, không để lại di chúc. Cha mẹ tôi có 09 người con là Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H3. Cha mẹ tôi không có con nuôi hay con riêng nào khác, cha mẹ ông T1 là ông Nguyễn Văn T2 đã chết năm 1946, bà Đặng Thị L4 đã chết năm 1974. Hiện nay gia đình chúng tôi có nhiều người sinh sống nên nảy sinh mâu thuẫn, mẹ tôi tuổi già sức yếu nên không chịu được áp lực từ phía gia đình nhà ông A nên mẹ tôi làm đơn khởi kiện phân chia di sản thừa kế cho cha tôi để lại. Tôi đồng ý với yêu cầu khởi kiện của mẹ tôi là bà Nguyễn Thị B.

Đối với “Đơn cho con trai tài sản” ngày 23/12/2023 là do chính tôi viết ra nhưng do ông A đe dọa mẹ tôi và các chị em trong nhà nên tôi đành viết và nói mẹ tôi kí cho yên chuyện trong nhà. Nhưng do vợ và con dâu ông A sống không tôn trọng mẹ tôi, gây xào xáo trong gia đình nên mẹ tôi quyết định không cho nữa.

* Tại các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2 có bà Nguyễn Thị H trình bày:

Chúng tôi là con gái bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T1. Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B có một căn nhà tại K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Cha tôi là ông T1 mất ngày 15/12/2013, không để lại di chúc. Cha mẹ chúng tôi có 09 người con là Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H3. Cha mẹ chúng tôi không có con nuôi hay con riêng nào khác, cha mẹ ông T1 là ông Nguyễn Văn T2 đã chết năm 1946, bà Đặng Thị L3 đã chết năm 1974. Hiện nay gia đình chúng tôi có nhiều người sinh sống nên nảy sinh mâu thuẫn, mẹ tôi tuổi già sức yếu nên không chịu được áp lực từ phía gia đình nhà ông A nên mẹ tôi làm đơn khởi kiện phân chia di sản thừa kế cho cha tôi để lại. Tôi đồng ý với yêu cầu khởi kiện của mẹ tôi là bà Nguyễn Thị B.

* Tại Biên bản hòa giải người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Như D trình bày: Tôi thống nhất với lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn A và thống nhất với Chứng thư thẩm định giá số 430/2024/307 ngày 23/8/2024 của Công ty cổ phần T3 nhưng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà B.

* Tại Biên bản hòa giải người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Như T trình bày: Tôi thống nhất với lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn A và thống nhất với Chứng thư thẩm định giá số 430/2024/307 ngày 23/8/2024 của Công ty cổ phần T3 nhưng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà B.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B chia phần di sản của ông Nguyễn Văn T1 theo quy định pháp luật mỗi người trong hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng 1/10 tổng giá trị di sản thừa kế của ông T1, theo đó Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H3 mỗi người được hưởng 455.863.860 đồng. Giao nhà đất trên cho bà Nguyễn Thị B quản lý, sử dụng (vì bà B đang quản lý, sử dụng ổn định và phần sở hữu của bà B đối với tài sản nhiều hơn những người khác thuận tiện cho quá trình thi hành án), bà B có nghĩa vụ thối trả tiền chênh lệch khi chia di sản thừa kế cho những người còn lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị B đối với bị đơn ông Nguyễn Văn A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị G và anh Nguyễn Như D đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.

[2] Về nội dung vụ án:

Ông Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1930) và bà Nguyễn Thị B (sinh năm 1934) có 09 người con, gồm: Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H3. Ông Nguyễn Văn T1 có cha ruột là ông Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1890, chết năm 1946) và mẹ ruột là bà Đặng Thị L3 (sinh năm 1890, chết năm 1974).

Sinh thời ông T1 và bà B tạo lập được một khối tài sản là N và đất tại Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 2, địa chỉ K190/3 nay là K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đ theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3401080447 do UBND thành phố Đ cấp ngày 07/6/2000. Năm 2013, ông T1 chết không để lại di chúc. Bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế do ông Nguyễn Văn T1 để lại là ½ Nhà và đất tại Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 2, địa chỉ K190/3 nay là K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đ theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3401080447 do UBND thành phố Đ cấp ngày 07/6/2000 theo pháp luật và trích lại các chi phí đóng góp xây dựng nhà đất cho bà Nguyễn Thị C 600.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị H3 70.000.000 đồng. Bà B có nguyện vọng được nhận hiện vật là toàn bộ nhà đất nói trên và thực hiện thối trả từng kỉ phần cho các hàng thừa kế.

Bị đơn ông Nguyễn Văn A thống nhất về hàng thừa kế và di sản thừa kế do ông T1 để lại nhưng không đồng ý phân chia di sản thừa kế bởi ông A cho rằng bà B đã hứa cho ông 40m² đất để ông làm nhà ở và thờ ông bà và bà B có viết 01 Đơn cho tài sản con trai vào ngày 23/12/2023. Nên ông A yêu cầu công nhận phần 40m² đất cho ông và phân chia di sản thừa kế của ông T1 để lại là ½ nhà đất tại Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 2, địa chỉ K190/3 nay là K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H3 đều thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B, đồng ý nhận phần di sản thừa kế được chia bằng tiền và giao nhà đất cho bà B.

Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị H3. Ngày 12/9/2024, bà C và bà H3 đều có đơn rút đơn yêu cầu độc lập.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Sinh thời ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B tạo lập được một khối tài sản là Nhà và đất tại Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 2, địa chỉ K190/3 nay là K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đ theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3401080447 do UBND thành phố Đ cấp ngày 07/6/2000. Năm 2013, ông Nguyễn Văn T1 chết không để lại di chúc. Do đó bà B yêu cầu khởi kiện phân chia di sản thừa kế do ông T1 để lại là ½ Nhà và đất tại Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 2, địa chỉ K190/3 nay là K đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đ theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3401080447 do UBND thành phố Đ cấp ngày 07/6/2000. Hiện nay nhà và đất nói trên đang do bà B và các con gộm bà C, bà Đ1, bà H và gia đình ông A đang quản lý sử dụng. Vì các đồng thừa kế không tự thỏa thuận phân chia di sản nên bà B làm đơn khởi kiện là đúng quy định pháp luật.

Về xác định hàng thừa kế để phân chia di sản: Các bên đương sự đều xác định ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B có 09 người con, gồm: Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H3. Ông Nguyễn Văn T1 có cha ruột là ông Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1890, mất năm 1946) và mẹ ruột là bà Đặng Thị L3 (sinh năm 1890, mất năm 1974). Ngoài ra ông bà không có con riêng, con nuôi nào khác. Do vậy hàng thừa kế xác định là 10 người gồm bà Nguyễn Thị B và 09 người con là Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H3.

Theo Chứng thư thẩm định giá số 430/2024/307 ngày 23/8/2024 của Công ty cổ phần T3 giá và dịch vụ tài chính BTC Miền Trung thì quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa số 185, tờ bản đồ số 2 địa chỉ K (cũ) K586/15 (mới) đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng trị giá 9.117.277.199₫ (Chín tỷ một trăm mười bảy triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn một trăm chín mươi chín đồng). Như vậy phần di sản thừa kế của ông T1 để lại dùng để phân chia là 4.558.638.600đ; mỗi kỉ phần được nhận bằng tiền là 455.863.860đ. Tuy nhiên hiện nay bà B đang trực tiếp quản lý sử dụng và phần sở hữu của bà B đối với tài sản nhiều hơn những người khác nên Hội đồng xét xử thấy việc giao cho ông Nguyễn Thị B được nhận hiện vật và có nghĩa vụ thối trả là phù hợp. Khi nhận hiện vật, bà Nguyễn Thị B phải có nghĩa vụ thối trả cho các đồng thừa kế còn lại tương ứng với mỗi kỷ phần là 455.863.860đ.

[4] Đối với lời khai của của bị đơn thì thấy: Ông Nguyễn Văn A cho rằng nguồn gốc đất và nhà ở tại K (mới) đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng là nhà của ông bà nội ông là ông Nguyễn Văn T2 và bà Đặng Thị L3, tài sản này để lại cho cha mẹ ông dùng làm việc thờ tự và bà B đã đồng ý cho ông 40m² để ông làm nhà ở và thờ tổ tiên theo Đơn cho con trai tài sản được viết vào ngày 23/12/2023. Xét tài liện chứng cứ do ông A cung cấp thì thấy “Đơn cho con trai tài sản” do bà Nguyễn Thị Đ1 là chị ông A viết và bà B kí tên, tuy nhiên vào ngày 05/02/2024 Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà B thì bà B khẳng định bà có hứa cho con trai Nguyễn Văn A 40m² đất có viết giấy tay nhưng chưa ra công chứng; quá trình sinh sống vợ con ông A không tôn trọng bà nên bà không cho nữa và có nói với ông A là bà sẽ bán nhà cho ông A 2.000.000.000 đồng để gia đình ông A ra ngoài ở nhưng ông A không chịu nên bà làm đơn khởi kiện. Ngoài ra bà Nguyễn Thị Đ1 – người viết đơn này khẳng định bà viết tờ giấy cho con trai tài sản là do bị ông A đe dọa, nên viết cho yên chuyện trong gia đình. Do vậy về ý chí bà B không đồng ý với việc cho ông A 40m² đất để làm nhà thờ và Đơn cho con trai tài sản chưa được chứng thực theo quy định pháp luật nên không phát sinh hiệu lực.

[5] Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị H3. Ngày 12/9/2024, bà C và bà H3 đều có đơn rút đơn yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị H3.

[6] Về án phí:

Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn bà Nguyễn Thị B, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Đ1 đã trên 60 tuổi, thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí, miễn án phí; Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ phải chịu án phí tương ứng với phần di sản mà mình được hưởng.

Do đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên hoàn trả cho bà Nguyễn Thị H3 số tiền tạm ứng án phí 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) mà bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0000125 ngày 21/3/2024.

[7] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí thẩm định giá tài sản là 45.000.000₫; Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000đ. Tổng các khoản là 48.000.000₫ (Bốn mươi tám triệu đồng) bà B tự nguyện chịu.

[8] Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 163, 164, 165, 166, 201, 202, 217, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 219, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị H3 về việc yêu cầu trích phần chi phí đóng góp xây dựng di sản thừa kế.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” giữa bà Nguyễn Thị B đối với ông Nguyễn Văn A.

Giao cho bà Nguyễn Thị B được nhận sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà và đất tại Thửa số 185, tờ bản đồ số 2 địa chỉ K (cũ) K586/15 (mới) đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng;

Buộc bà Nguyễn Thị B phải có nghĩa vụ thối trả cho bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Đ1, ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị H3 mỗi người 455.863.860đ (Bốn trăm năm mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi ba ngàn tám trăm sáu mươi đồng).

Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thối trả, bà Nguyễn Thị B có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và hệ thống pháp luật có liên quan.

Trường hợp bà Nguyễn Thị B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thối trả thì một trong các đồng thừa kế có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan Thi hành án tiến hành phát mãi nhà và đất để thực hiện việc phân chia. Việc phát mãi sẽ căn cứ vào giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất thực tế tại thời điểm phát mãi để phân chia theo tỷ lệ phần trăm mà từng đương sự được hưởng. Cụ thể: Bà Nguyễn Thị B nhận số tiền tương ứng 11/20 giá trị tài sản phát mãi; bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Đ1, ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị H3 nhận số tiền tương ứng 01/20 giá trị tài sản phát mãi.

3/ Về án phí:

Bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Đ1 thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí, miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị H mỗi người phải chịu 22.234.554đ (Hai mươi hai triệu hai trăm ba mươi bốn ngàn năm trăm năm mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bà Nguyễn Thị H3 phải chịu 22.234.554đ (Hai mươi hai triệu hai trăm ba mươi bốn ngàn năm trăm năm mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 1.750.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000125 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Còn lại buộc bà Nguyễn Thị H3 phải nộp thêm số tiền 20.484.554 (Hai mươi triệu bốn trăm tám mươi bốn ngàn năm trăm năm mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4/ Chi phí tố tụng khác: Chi phí thẩm định giá tài sản là 45.000.000đ; Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000đ. Tổng các khoản là 48.000.000₫ (Bốn mươi tám triệu đồng) bà B tự nguyện chịu.

5/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.

Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 141/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger