|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 141/2024/HS-ST Ngày: 06-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chung Quốc Hội
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Rạng Đông – Nguyên Trưởng phòng Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Phú Quốc.
- Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đình Toàn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Trịnh Hải Đăng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/HSST-QĐ ngày 19/8/2024, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Trịnh Thị Ầ, sinh năm 1986, tại Tp ., Kiên Giang;
Tên gọi khác: Không;
Nơi ĐKHKTT: Tổ 5, khu phố 9, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
Chỗ ở: Tổ 5, khu phố 9, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 7/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trịnh Đình C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T;
Bị cáo có chồng tên Trương Văn D, có 03 người con sinh năm 2008, 2016 và 2019;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2023 đến ngày 06/7/2024 được bảo lĩnh, tại ngoại cho đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Danh Quốc T1, sinh ngày 21/8/2007, tại huyện K, Kiên Giang;
Tên gọi khác: Me;
Nơi ĐKHKTT: Ấp Rạch Vẹm, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
Chỗ ở: Ấp Rạch Vẹm, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12;
Dân tộc: Khơmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông (không rõ tên cha) và bà Thị Út H;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo được tại ngoại cho đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Danh Quốc T1: Ông Trần K – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K (có mặt).
Người đại diện của bị cáo T1: Bà Thị Út H, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp R, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Bị hại:
Bà Phan Thị K1, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do vào năm 2021, bị cáo Trịnh Thị Ầ có cho bà Phan Thị K1 vay số tiền 100.000.000 đồng nhưng bà K1 không có khả năng chi trả, bị cáo Ầ đã nhiều lần yêu cầu bà K1 trả tiền nhưng bà K1 trốn tránh, không thực hiện. Đến khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 28/4/2023, bị cáo Ầ đi trên đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì thấy bà K1 đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh – đen, biển kiểm soát 68P1-208.44 lưu thông trên đường nên bị cáo Ầ đến yêu cầu bà K1 trả tiền thì bà K1 nói là không có tiền, hai bên phát sinh cãi nhau. Lúc này, bị cáo Ầ thấy bị cáo Danh Quốc T1, (tên gọi khác là M, là người trước đây làm thuê cho bị cáo Ầ) đang uống cà phê cùng với một số người nam giới tên T2, T3, K2 (không rõ nhân thân) ở gần đó nên bị cáo Ầ kêu bị cáo T1 đến điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 68P1-208.44 chở bà K1 đi đến nhà của bà K1 cho biết nhà để sau này đến lấy tiền trả cho bị cáo Ầ thì bị cáo T1 đồng ý, T2, T3, K2 cũng đi chung với bị cáo T1. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày,
bị cáo T1 điều khiển xe mô tô chở bà K1 đến khu vực đường P gần hãng nước mắm K thuộc khu phố A, phường D thì bà K1 không đồng ý chỉ nhà nên bị cáo T1 dừng xe lại và gọi điện thoại cho bị cáo Ầ đến, bị cáo Ầ đến tiếp tục cãi nhau với bà K1. Lúc này, do nóng giận không kiềm chế được nên bị cáo Ầ dùng tay kéo bà K1 xuống xe, bà K1 và bị cáo Ầ giằng co với nhau, bị cáo Ầ nói: “lấy xe về cho tao, khi nào đem tiền đến trả thì trả xe lại”, nghe vậy nên bị cáo T1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 68P1-208.44 chạy về nhà bị cáo Ầ tại khu phố I, phường D, còn T2, T3, K2 đứng gần đó nhưng không tham gia. Sau khi về nhà, bị cáo Ầ biết bản thân đã thực hiện hành vi phạm tội nên ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 28/4/2023. Đến ngày 01/5/2023, bị cáo Ầ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố vụ án. Ngày 05/05/2023, bị cáo Danh Quốc T1 ra đầu thú, đến ngày 06/7/2023, bị cáo T1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố vụ án.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh – đen, biển kiểm soát 68P1-208.44, số khung: 5C6J0RI017760, số máy: 5C6J-107759, đã qua sử dụng (thu giữ của bà K1).
Tại Kết luận định giá tài sản số: 75/KL-HĐĐGTS, ngày 04/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh – đen, biển kiểm soát 68P1-208.44, số khung: 5C6J0RI017760, số máy: 5C6J-107759, mua mới và sử dụng từ năm 2014 có giá trị vào ngày 28/4/2023 là 7.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSPQ ngày 18 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo Trịnh Thị Ầ và bị cáo Danh Quốc T1 về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ầ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm.
Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T1 từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm.
Do bị cáo Ầ và T1 là người không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bà Phan Thị K1 đã nhận lại tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh – đen, biển kiểm soát 68P1-208.44 và nhận được số tiền bồi thường 150.000.000 đồng của bị cáo Ầ, bà K1 không yêu cầu bồi thường thêm, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Bà Phan Thị K1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh – đen, biển kiểm soát 68P1-208.44, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Ầ và bị cáo T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Ầ và bị cáo T1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Ầ và bị cáo T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định ngày 28/4/2023, tại địa chỉ khu phố A, phường D, bị cáo Ầ và bà K1 xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau từ việc bị cáo Ầ cho bà K1 vay số tiền 100.000.000 đồng nhưng bà K1 không trả. Do nóng giận không kiềm chế được nên bị cáo Ầ có hành động dùng tay kéo bà K1 xuống xe máy, bị cáo Ầ nói kêu bị cáo T1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 68P1-208.44 của bà K1 chạy về nhà bị cáo Ầ tại khu phố I, phường D để trừ số tiền vay. Hành động của bị cáo Ầ là dùng vũ lực làm cho bà Kiều L vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt chiếc xe máy 68P1-208.44 thuộc quyền sở hữu của bà K1, giá trị chiếc xe tại thời điểm chiếm đoạt là 7.500.000 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo Ầ và bị cáo T1 đủ yếu tố cấu thành tội “cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo Ầ và bị cáo T1 nhận thức được hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do lúc nóng giận việc bà K1 không trả nợ nên bị cáo Ầ kêu bị cáo T1 lấy xe bà K1 nhằm mục đích trừ nợ. Trong vụ án này, bị cáo Ầ và bị cáo T1 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, trong đó bị cáo Ầ giữ vai trò cao hơn có hành vi dùng vũ lực và xúi giục bị cáo T1 hành vi cướp tài sản của bà K1, bị cáo Thanh giữ vai trò thấp hơn thực hiện hành vi cướp xe mô tô của bà K1 theo sự lời nói của bị cáo Ầ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và mất an ninh trật tự tại địa phương. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử quyết định cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Đồng thời, có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Do bị cáo Ầ có công việc nội trợ, bị cáo T1 còn nhỏ chưa đủ 18 tuổi, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ầ kêu bị cáo T1 lấy xe của bị hại là hành vi xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Ầ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo Ầ và bị cáo T1 đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ầ và T1 đầu thú, gia đình bị cáo Ầ có ông Ngoại Nguyễn Hữu H1, bà N Hồ Thị T4 là người có công trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước, bị cáo có nhiều đóng góp trong hoạt động xã hội, từ thiện tại địa phương, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có hai tình tính tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để giảm nhẹ cho bị cáo.
Đối với bị cáo T1: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo T1 cùng với bị cáo Ầ đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 đầu thú, bị cáo T1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có hai tình tính tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để giảm nhẹ cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại.
Bị cáo Ầ và bị cáo T1 đã bồi thường số tiền 150.000.000 đồng cho bà K1. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà K1 không yêu cầu bồi thường thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
Vật chứng thu giữ là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh – đen, biển kiểm soát 68P1-208.44, số khung: 5C6J0RI017760, số máy: 5C6J-107759 đã giao trả lại cho bà K1 là phù hợp quy định pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo Ầ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo T1 là trẻ em thuộc trường hợp không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thị Ầ phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Thị Ầ 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trịnh Thị Ầ cho UBND phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Danh Quốc T1 phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Danh Quốc T1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian cải tạo là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Danh Quốc T1 cho UBND xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại:
Bà Phan Thị K1 đã nhận được tiền bồi thường 150.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Ầ và bị cáo T1 bồi thường thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về xử lý vật chứng:
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, Vật chứng thu giữ là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh – đen, biển kiểm soát 68P1-208.44, số khung: 5C6J0RI017760, số máy: 5C6J-107759 đã giao trả lại cho bà Phan Thị K1, Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí:
Căn cứ Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trịnh Thị Ầ phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.
Bị cáo Danh Quốc T1 thuộc trường hợp không phải chịu án phí.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Quốc Hội |
Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về cướp tài sản
- Số bản án: 141/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp xe máy
