|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 141/2024/DS-ST Ngày 22-8-2024 V/v Tranh chấp tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu; tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.
- Các Hội thẩm nhân dân;
- Ông Nguyễn Thanh Văn;
- Bà Trần Thị Đào.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt Quang, Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Ngô Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu; tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Trung H, sinh năm 1992. “có mặt” Địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Kiều N, sinh năm 1968. “có mặt” Địa chỉ: Số C, đường L, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng TMCP Q (MB). Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT. Pháp nhân đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Q là Công ty TNHH Q1 và Khai thác tài sản - Ngân hàng TMCP Q. Địa chỉ: Tầng G, nhà B, đường P, quận Đ, Thành phố Hà Nội (Theo văn bản ủy quyền số 129/UQ.MB-MBAMC ngày 13/4/2023). Người đại diện theo pháp luật là ông Hà Anh D, chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền của ông D là ông Mạc Đức T1, chức vụ: Giám đốc – MB AMC ĐNB (Theo văn bản ủy quyền số 12941.4/UQ-MBAMC ngày 21/12/2023). Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 là ông Lê Văn S và ông Phạm Lê A, chức vụ: chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ liên hệ: Tòa nhà N, số I, đường H, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Theo văn bản ủy quyền số 335/UQ-MBAMC ngày 15/4/2024) “ông S có mặt”
- Văn phòng C. Địa chỉ: Số C, đường Đ, khu phố E, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị Đ, trưởng văn phòng. “vắng mặt"
- Bà Hà Thị A1, sinh năm 1953. “vắng mặt”
- Bà Bùi Sơn T2, sinh năm 1972. “vắng mặt”
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2024, trong quá trình làm việc và tại phiên tòa - nguyên đơn là ông Bùi Trung H trình bày:
Ông không có mối quan hệ họ hàng gì với bà Trần Thị Kiều N. Ông vay tiền của Ngân hàng V, nhưng bị nợ xấu, không vay được tiền nữa nên có nhờ anh Nguyễn Minh H1 (con ruột bà N, trước đây là cán bộ tín dụng ngân hàng V quản lý hồ sơ vay của ông) hỏi thủ tục vay tiền của ngân hàng khác. Ông và anh H1 thỏa thuận giao cho bà N đứng tên giùm thửa đất 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh của ông. Ngày 11/8/2022, ông và bà N ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên và được Văn phòng C chứng thực với giá trị chuyển nhượng 500.000.000 đồng, nhưng không giao nhận tiền. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, ông giao cho anh H1 làm thủ tục vay vốn của ngân hàng thì được biết anh H1 giao lại cho anh Nguyễn Huỳnh H2 là người trực tiếp thực hiện thủ tục vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T4 (gọi tắt ngân hàng). Khi làm thủ tục chuyển nhượng cho bà N đứng tên, ông biết bà N được điều chỉnh trang 4 ngày 30/08/2022 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 279996 (gọi tắt GCNQSDĐ), số vào sổ CS04475 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05/8/2019, mà ông đứng tên và vay ngân hàng số tiền 850.000.000 đồng, còn thực tế bà N có vay được tiền hay không thì ông không biết vì anh Nguyễn Minh H1 nói chưa vay được tiền, bị vướng thủ tục vay vốn. Sau đó, anh H1 bị bắt vì hành vi lừa đảo nên ngày 06/7/2023 (ghi ngày 06/7/2022), ông và bà N có lập văn bản về việc bà N chỉ đứng ra vay tiền giùm ông tại Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh tỉnh T4, chứ không bà N không có nhận tiền gì vì giữa ông, anh Nguyễn Minh H1 và anh Nguyễn Huỳnh H2 thỏa thuận số tiền vay được từ ngân hàng do cả ba thỏa thuận sử dụng, không liên quan đến bà N. Đối với việc bà N thế chấp tài sản cho ngân hàng, ông có tham gia việc tiến hành thẩm định tài sản thế chấp giữa bà N và ngân hàng vì khi giao cho bà N đứng giấy đất, ông vẫn đang ở trên đất, nhưng chỉ nói là con cháu nên không có ký tên gì vào biên bản thẩm định tài sản. Hiện tại, bà N không trả tiền lãi nên ngân hàng có thông báo cho ông là người đang ở trên đất về việc xử lý tài sản thì ông mới biết bà N đã vay được 850.000.000 đồng. Từ khi vay cho đến nay, số tiền bà N vay được chưa giao cho ông. Ông cũng không đóng tiền gốc và tiền lãi lần nào.
Do ông nhờ bà N đứng tên vay tiền, nhưng chưa nhận tiền nên ông yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022 với bà Trần Thị Kiều N, do Văn phòng C chứng thực ngày 11/8/2022, số công chứng 7872, quyển số 39/2022 TP/CC-SCC-HĐGD, đối với thửa đất số 342/537,8m², tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu và yêu cầu hủy cập nhật trang 4 GCNQSDĐ số CR 279996 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05/8/2019, sang tên bà Trần Thị Kiều N ngày 30/08/2022. Đồng thời, ông yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 15/12/2022 giữa Ngân hàng TMCP Q và bà Trần Thị Kiều N đối với thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu. Ông không đồng ý đối với yêu cầu của ngân hàng về việc phát mãi tài sản là thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Ông không yêu cầu bà N trả số tiền 850.000.000 đồng hay đề nghị xử lý hình sự đối với bà N. Đối với hành vi của anh Nguyễn Minh H1, ông có yêu cầu Công an tỉnh T giải quyết nhưng được thông báo không xử lý hình xử và không có khiếu nại gì. Ông không biết địa chỉ cụ thể của anh Nguyễn Huỳnh H3. Ngoài ra, ông không yêu cầu nào khác.
Bị đơn – bà Trần Thị Kiều N trình bày:
Về quan hệ và quá trình vay tiền đúng như lời trình bày ông H1. Ông H1 có nhờ bà đứng tên GCNQSDĐ để vay tiền giùm ông H1. Sau khi được điều chỉnh trang 4 GCNQSDĐ số CR 279996 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05/8/2019 mà ông H1 đứng tên sang tên bà ngày 30/8/2022. Ngày 16/12/2022, bà có vay tiền của ngân hàng số tiền 850.000.000 đồng, bà được giải ngân số tiền 800.000.000 đồng, đóng bảo hiểm 50.000.000 đồng, số tiền giải ngân được chuyển vào tài khoản của anh Nguyễn Huỳnh H2 (bạn của anh Nguyễn Minh H1, trước đây cũng làm cán bộ tín dụng ngân hàng V) vào cùng ngày 16/12/2022 vì anh H2 là người lo thủ tục vay vốn nên ngân hàng giải ngân vào tài khoản của anh Nguyễn Huỳnh H2. Khi vay, bà là người vay, nhưng chỉ ký tên, còn thủ tục vay vốn và giải ngân cho ai thì bà không nhớ vì toàn bộ thủ tục do anh Nguyễn Huỳnh H2 thực hiện. Đối với số tiền 800.000.000 đồng, anh H2 có giao lại cho ông H1 hay con của bà hay không thì bà không biết. Từ trước cho đến nay, bà không có giao cho ông H1 số tiền 800.000.000 đồng. Sau khi vay, con của bà là người trả tiền lãi cho ngân hàng được 3-4 tháng đầu, sau đó không đóng nữa và bà đóng thêm được khoảng 06 tháng nữa thì dừng đóng. Lý do đóng tiền lãi cho ngân hàng là bà không liên lạc được ông H1, còn con của bà bị bắt nên bà sợ ảnh hưởng đến uy tín của bà nên bà cố gắng đóng tiền lãi cho ngân hàng hằng tháng thì đóng ngừng do đóng không nổi. Ngày 06/7/2023 (ghi ngày 06/7/2022), hai bên có lập văn bản về việc bà chỉ đứng ra vay tiền giùm ông H1 tại ngân hàng, bà không nhận tiền vì giữa ông Bùi Trung H, anh Nguyễn Minh H1 và anh Nguyễn Huỳnh thỏa T3 số tiền vay do cả ba tự thỏa thuận với nhau, không liên quan đến bà. Đối với anh Nguyễn Huỳnh H2, từ sau khi con bà bị bắt thì bà không liên lạc được với anh H2, cũng như không biết địa chỉ cụ thể ở đâu. Bà không nhận số tiền vay, tuy nhiên bà là người ký vay tiền nên đồng ý trả số tiền 987.505.854 đồng (trong đó tiền gốc là 850.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 104.306.951 đồng, lãi quá hạn đến ngày 22/8/2024 là 33.198.903 đồng) và tiếp tục tính lãi theo Hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ cho ngân hàng. Bà đồng ý tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022 với ông Bùi Trung H, do Văn phòng C chứng thực ngày 11/8/2022, số công chứng 7872, quyển số 39/2022 TP/CC-SCC-HĐGD, đối với thửa đất số 342/537,8m², tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu và điều chỉnh lại GCNQSDĐ cho ông H đứng tên. Đối với tài sản thế chấp là do bà đứng tên giùm ông H nên bà thống nhất ý kiến của ông H về việc không phát mãi tài sản. Đối với số tiền bà đứng ra vay giùm, giữa bà và ông H tự giải quyết, không yêu cầu giải quyết trong vụ việc này. Đối với yêu cầu xử lý tài sản khác của bà, bà không đồng ý vì bà không có tài sản nào khác và không có thỏa thuận này đối với ngân hàng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – đại diện Ngân hàng TMCP Q là ông Lê Văn S trình bày:
Ngày 16/12/2022, bà Trần Thị Kiều N ký kết Hợp đồng cho vay số 52835.22.734.5856206.TD đối với ngân hàng để vay số tiền 850.000.000 đồng, mục đích: Vay bổ sung vốn kinh doanh mua bán mì, lãi suất trong hạn 10.8%/năm (trong 03 tháng đầu tiên), lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, thời gian vay 11 tháng. Ngoài ra, bà N còn ký số khế ước nhận nợ số LD2235022811 ngày 16/12/2022. Khi vay, bà N thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 342/537,8m², tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh do bà Trần Thị Kiều N đứng tên theo Hợp đồng thế chấp số 76235.22.734.5856206.BĐ ngày 15/12/2022. Khi cho bà N vay vốn, ngân hàng đã thực hiện theo đúng quy định pháp luật về việc thực hợp đồng thế chấp và đăng ký thế chấp, trong đó có tiến hành thẩm định tài sản thế chấp là thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh do bà N đứng tên. Giữa ngân hàng và bà N có thống nhất giá trị tài sản thế chấp và kí biên bản thẩm định tài sản thế chấp. Ngoài ra, ngân hàng còn có hình ảnh do chụp tài sản thế chấp, trong đó có hình ảnh của ông H chỉ đất. Bà N thanh toán được tiền lãi 56.932.226 đồng, nhưng đến ngày 16/11/2023 hết thời hạn thanh toán, bà N chưa thanh toán theo quy định nên vi phạm nghĩa vụ thanh toán và lãi quá hạn được tính từ ngày 16/11/2023. Do đó, ngân hàng yêu cầu bà N có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ đến ngày 22/8/2024 là 987.505.854 đồng (trong đó tiền gốc là 850.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 104.306.951 đồng, lãi quá hạn đến ngày 22/8/2024 là 33.198.903 đồng) và tiếp tục tính lãi theo Hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ. Đồng thời, ngân hàng yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh do bà Trần Thị Kiều N đứng tên. Trường hợp, xử lý tài sản bảo đảm của bà N không đủ thanh toán hết khoản nợ vay thì phát mãi tài sản khác của bà N để trả hết khoản nợ nêu trên cho ngân hàng. Đối với yêu cầu của ông H về việc tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu, ngân hàng không đồng ý.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – đại diện Văn phòng C là bà Trần Thị Đ1 đã khai:
Ngày 01/8/2022, Văn phòng có tiếp nhận và thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Trung H (sinh năm: 1992) với bà Trần Thị Kiều N (sinh năm: 1968) và Văn phòng đã chứng nhận số công chứng 7872, quyển số 39/2022/TP/CC-SCC/HĐGD. Việc chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục công chứng. Tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định pháp luật, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, quyền sử dụng đất đủ điều kiện chuyển nhượng. Nhận thấy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Văn phòng đã thực hiện hoàn toàn hợp pháp và có giá trị pháp lý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Hà Thị A1 và bà Bùi Sơn T2 trình bày:
Phần đất ông Bùi Trung H đứng tên, trước đây do cha ruột của ông H đứng tên. Sau đó, cho lại ông H, các bà và những người con khác không có ý kiến gì. Việc ông H giao cho người khác đứng tên và thế chấp ngân hàng, các bà không biết cho đến khi ngân hàng thông báo cho ông H về việc phát mãi tài sản thì ông H mới thông báo. Đối với bà A thì có nghe nói ông H thế chấp tài sản để vay tiền kinh doanh. Các bà đề nghị giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của ông H.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành tốt những quy định pháp luật, kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Kiểm sát viên không phát hiện có vi phạm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 299, 117, 119, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 166, 167, 168 Luật Đất đai năm 2013; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Trung H. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022 giữa ông H và bà N đối với diện tích 537,8m², thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu. Ông H được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất diện tích 537,8m², thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông H yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản ngày 15/12/2022 giữa ngân hàng TMCP Q và bà Trần Thị Kiều N đối với diện tích 537,8m², thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Q. Buộc bà N có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q số nợ gốc là 850.000.00 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí: Các đương sự phải theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Ông Bùi Trung H khởi kiện yêu cầu tranh chấp về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp vô hiệu, bất động sản tại huyện G, tỉnh Tây Ninh. Do đó căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trần Thị Đ1, bà Hà Thị A1 và bà Bùi Sơn T2 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Đ1, bà A và bà T2.
- Về nội dung khởi kiện:
- Ông Bùi Trung H yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022 với bà Trần Thị Kiều N, do Văn phòng C công chứng ngày 11/8/2022, số công chứng 7872, quyển số 39/2022 TP/CC-SCC-HĐGD, đối với thửa đất số 342/537,8m², tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu và yêu cầu hủy cập nhật trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 279996 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05/8/2019, sang tên bà Trần Thị Kiều N ngày 30/08/2022. Đồng thời, ông H yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 15/12/2022 giữa Ngân hàng TMCP Q và bà Trần Thị Kiều N đối với thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
- Ngân hàng TMCP Q yêu cầu bà Trần Thị Kiều N có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ là 987.505.854 đồng (trong đó tiền gốc là 850.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 104.306.951 đồng, lãi quá hạn đến ngày 22/8/2024 là 33.198.903 đồng) và tiếp tục tính lãi theo Hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ. Đồng thời, Ngân hàng TMCP Q yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh do bà Trần Thị Kiều N đứng tên. Trường hợp, xử lý tài sản bảo đảm của bà N không đủ thanh toán hết khoản nợ vay thì phát mãi tài sản khác của bà N để trả hết khoản nợ nêu trên cho ngân hàng.
- Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Trung H:
- Ông Bùi Trung H và bà Trần Thị Kiều N thống nhất giao bà N đứng tên giùm thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh của ông H để vay tiền của ngân hàng. Ngày 11/8/2022, hai bên ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022, do Văn phòng C công chứng ngày 11/8/2022, số công chứng 7872, quyển số 39/2022 TP/CC-SCC-HĐGD, đối với thửa đất số 342/537,8m², tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh với giá trị 500.000.000 đồng, không có giao nhận tiền gì. Ngày 30/08/2022, bà N được điều chỉnh trang 4 GCNQSDĐ sang tên bà Trần Thị Kiều N đứng tên. Ngoài ra, hai bên có làm Giấy xác nhận ngày 06/7/2022 (thực tế là ngày 06/7/2023 như biên bản đối chất ngày 13/5/2024) về việc bà N chỉ đứng tên giùm. Hiện tại, gia đình ông H vẫn đang quản lý và sử dụng phần đất này. Quá trình giải quyết, bà N thống nhất đối với yêu cầu khởi kiện của ông H. Tuy nhiên, giữa ông H và bà N tự nguyện ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022 để bà N đứng tên và thực hiện thủ tục vay tiền từ ngân hàng, đúng với thỏa thuận của hai bên nên hợp đồng đã có hiệu lực theo Điều 503 của Bộ luật Dân sự và Luật đất đai. Sau khi được điều chỉnh trang 4 GCNQSDĐ, bà N đã dùng quyền sử dụng đất này để thế chấp cho ngân hàng, thực hiện thủ tục vay vốn như thỏa thuận với ông H nên ông H và bà N đã chuyển giao quyền liên quan đến quyền sử dụng đất cho ngân hàng. Vì vậy, việc ông H và bà N thỏa thuận tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để giao lại quyền sử dụng đất cho ông H làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ngân hàng. Do đó, cần xem xét tính pháp lý của Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp để có căn cứ xem xét tính pháp lý của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022.
- Đối với yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thế chấp vô hiệu, có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q nên được xem xét cùng nhau.
- Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Q:
- Nhận thấy giữa đại diện Ngân hàng và bà Trần Thị Kiều N thống nhất có ký kết Hợp đồng cho vay số 52835.22.734.5856206.TD ngày 16/12/2022 và Văn bản nhận nợ số LD2235022811 ngày 16/12/2022 tại Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh T4 để vay số tiền 850.000.000 đồng, thời hạn vay 11 tháng; trong hợp đồng cấp tín dụng có quy định về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, phạt chậm trả lãi, phạt vi phạm hợp đồng và những cam kết khác được các bên thỏa thuận theo Điều 92 Luật tổ chức tín dụng. Khi ký kết hợp đồng, hai bên tự hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng nên công nhận hợp đồng tín dụng giữa bà N và ngân hàng là có thật và hợp pháp. Quá trình giải quyết, bà N thống nhất từ khi vay cho đến phiên tòa, chỉ trả được tiền lãi, chưa trả tiền gốc theo thỏa thuận nên bà N thống nhất còn nợ ngân hàng đến ngày 22/8/2024 là 987.505.854 đồng (trong đó tiền gốc là 850.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 104.306.951 đồng, lãi quá hạn là 33.198.903 đồng). Quá trình giải quyết, bà N không đồng ý thanh toán số tiền này cho ngân hàng vì ngân hàng giải ngân cho ông Nguyễn Huỳnh H2. Ngoài ra, giữa ông H, ông H2 và con bà N tự thỏa thuận về việc sử dụng số tiền vay. Nhận thấy, hồ sơ vay vốn thể hiện người thụ hưởng tiền vay là ông Huỳnh Hiếu H4. Đại diện ngân hàng cho rằng người thụ hưởng do người vay quyết định nên ngân hàng đã thực hiện theo đúng quy chế cho vay của ngân hàng. Quá trình làm việc, ông H và bà N cũng không cung cấp thông tin liên quan đến ông H4 nên không đưa tham gia tố tụng và việc này cũng không làm thay đổi yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về trách nhiệm thanh toán. Ngân hàng xác định bà N là người vay tiền trực tiếp nên bà N và ông H4 sử dụng tiền vay như thế nào là giao dịch riêng giữa hai bên bên. Đối với thỏa thuận của bà N, ông H, con bà N và ông H4 thì ngân hàng không biết nên không đồng ý với ý kiến của bà N. Tại biên bản đối chất ngày 13/5/2024 và phiên tòa hôm bay, bà đồng ý có nghĩa vụ trả số tiền nêu trên cho ngân hàng. Do đó, bà N là người trực tiếp vay tiền của ngân hàng nên ngân hàng yêu cầu bà N thanh toán số tiền còn nợ là có cơ sở chấp nhận.
- Đối với việc xử lý tài sản thế chấp:
- Tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng của bà Trần Thị Kiều N (bên vay) là Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, địa chỉ thửa đất tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo GCNQSDĐ số CR 279996, số vào sổ CS04475 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05/08/2019, cập nhật chuyển nhượng ngày 30/08/2022 cho bà Trần Thị Kiều N đứng tên. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 76235.22.734.5856206.BD ngày 15/12/2022, do Phòng C1, tỉnh Tây Ninh công chứng, số Công chứng số: 8840, quyển số 12/2022/TP/CC-SCT/HĐGD và đã được Ngân hàng đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 16/12/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh huyện G theo đúng quy định pháp luật.
- Theo Biên bản về xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/06/2024 thể hiện: Phần diện tích thế chấp là 537,8m², thuộc thửa số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo GCNQSDĐ số CR 279996 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05/08/2019, được cập nhật biến động ngày 30/08/2022 cho bà Trần Thị Kiều N đứng tên. Phần đất không có tranh chấp. Trên đất có những tài sản như sau:
- 01 căn nhà tường cấp 4 (nền gạch men, cửa sắt kính, máy de lophông, tường gạch đã tô) do ông H và bà A đang ở;
- 01 căn nhà tường (nền gạch tàu, cửa sắt kính, máy thiết, không lo phông, tường gạch chưa tô) do bà T2 đang ở;
- Hai mái che bằng thiết + trụ bê tông;
- 01 hàng rào lưới B40 + trụ bê tông;
- 01 nhà vệ sinh;
- Nền gạch tàu và một số cây trên đất.
- Ông H thừa nhận khi Ngân hàng thẩm định thì ông H có mặt, chỉ các tài sản trên đất và đồng ý cho cán bộ ngân hàng thẩm định toàn bộ tài sản trên phần đất được bà N thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q để thực hiện thủ tục vay tiền. Đối với bà A và bà T2 đều thừa nhận quyền sử dụng đất đã được giao cho ông H toàn quyền quyết định. Nhận thấy, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 76235.22.734.5856206.BD ngày 15/12/2022 giữa bà N và Ngân hàng TMCP Q đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 298, 319 Bộ luật dân sự. Do đó, trong trường hợp này Ngân hàng TMCP Q là người thứ ba ngay tình và được pháp luật bảo vệ nên hợp đồng thế chấp không bị vô hiệu theo quy định tại Điều 133 Bộ luật dân sự. Do đó, chấp nhận yêu cầu độc lập của ngân hàng trong trường hợp bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự. Vì vậy, ông H và bà N thỏa thuận tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022 vô hiệu để giao quyền sử dụng đất cho ông H và ông H yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản ngày 15/12/2022 giữa ngân hàng và bà Trần Thị Kiều N đối với diện tích 537,8m², thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu, là không có cơ sở chấp nhận.
- Từ những phân tích nêu trên, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H như sau:
- Không chấp nhận tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022 giữa ông H và bà N đối với diện tích 537,8m², thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu và hủy cập nhật điều chỉnh trang 4 ngày 30/08/2022 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 279996 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05/8/2019.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông H yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản ngày 15/12/2022 giữa ngân hàng TMCP Q và bà Trần Thị Kiều N đối với diện tích 537,8m², thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
- Từ những phân tích nêu trên, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Q đối với bà N:
- Buộc bà N có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 987.505.854 đồng, trong đó tiền gốc là 850.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 104.306.951 đồng, lãi quá hạn là 33.198.903 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q về việc xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh
- Đối với yêu cầu của ngân hàng xử lý tài sản khác của bà N nếu không đủ thanh toán hết khoản nợ nêu trên cho ngân hàng. Nhận thấy hai bên không có thỏa thuận nào khác về việc xử lý tài sản khác của bà N nên không chấp nhận.
- Ghi nhận ông Bùi Trung H không yêu cầu bà Trần Thị Kiều N trả số tiền đã vay được của Ngân hàng TMCP Q.
- Bà Trần Thị Kiều N có quyền tranh chấp với anh Nguyễn Huỳnh H2 bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu và được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của ngân hàng được chấp nhận nên bà N có nghĩa vụ phải chịu. Ghi nhận ngân hàng đã nộp 1.500.000 đồng và đã chi xong nên bà N có nghĩa vụ trả lại số tiền 1.500.000 đồng cho ngân hàng.
- Về án phí: Ông H phải chịu án phí đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và hợp đồng thế chấp vô hiệu không được chấp nhận. Bà N phải chịu án phí đối với số tiền 987.505.854 đồng phải trả cho cho ngân hàng. Ngân hàng không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 117, 119, 133, 298, 299, 319, 503 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 167, 168 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 91, 95 của Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 147, 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Trung H đối với bà Trần Thị Kiều N.
- Không chấp nhận tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất ngày 11/8/2022 giữa ông Bùi Trung H và bà Trần Thị Kiều N, do Văn phòng C chứng thực ngày 11/8/2022, số công chứng 7872, quyển số 39/2022 TP/CC-SCC-HĐGD vô hiệu và hủy cập nhật trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 279996 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05/08/2019 được đăng ký biến động ngày 30/08/2022 bà Trần Thị Kiều N đứng tên.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Trung H yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản ngày 15/12/2022 giữa Ngân hàng TMCP Q và bà Trần Thị Kiều N đối với diện tích 537,8m², thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
- Ghi nhận ông Bùi Trung H không yêu cầu bà Trần Thị Kiều N trả số tiền đã vay được của Ngân hàng TMCP Q.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với bà Trần Thị Kiều N.
- Buộc bà Trần Thị Kiều N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 987.505.854 (chín trăm tám mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm nghìn tám trăm năm mươi bốn) đồng, trong đó tiền gốc là 850.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 104.306.951 đồng, lãi quá hạn đến ngày 22/8/2024 là 33.198.903 đồng. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/8/2024), nếu bà Trần Thị Kiều N chưa thanh toán số tiền nêu trên thì bà N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phạt chậm trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trường hợp bà Trần Thị Kiều N không trả nợ hoặc trả không hết được thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 537,8m² (trong đó có 259,9m² thuộc lộ giới quy hoạch đường đất thất Cẩm Long – Bàu Rừng), thửa đất số 342, tờ bản đồ số 40, tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Ưu tiên thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q.
- Không chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản khác của bà Trần Thị Kiều N nếu không đủ thanh toán hết khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP Q.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Trần Thị Kiều N có nghĩa vụ trả lại số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng cho Ngân hàng TMCP Q. Kể từ ngày Ngân hàng TMCP Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị Kiều N không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng bà N còn phải trả cho ngân hàng số tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thanh toán xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Bùi Trung H phải chịu 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, cho khấu trừ số tiền 600.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013776 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- - Bà Trần Thị Kiều N phải chịu 41.625.000 (bốn mươi một triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 20.103.000 (hai mươi triệu một trăm lẻ ba nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0014049 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh
- Về quyền kháng cáo: Ông Bùi Trung H, bà Trần Thị Kiều N, đại diện Ngân hàng TMCP Q được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Hà Thị A1 và bà Bùi Sơn T2, Văn phòng chông chứng Trần Thị Đ1 được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Tiến Danh |
14
Bản án số 141/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu; tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 141/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu; tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thế chấp vô hiệu, hợp đồng tín dụng giữa Bùi Trung H - Nguyễn Thị Kiều N
