Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2024/HS-ST Ngày 23 – 4 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thanh Ngọc.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Cáp Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Mai Hương.

Thư ký phiên toà: Bà Nông Kim Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 23/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 152/2024/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nông Văn T, sinh năm 1997; HKTT: Thôn Nà Và, xã Đức H, Hện B, tỉnh Cao Bằng.
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn N, sinh năm 1968 và bà Triệu Thị Nh, sinh năm 1965; Vợ, con: Chưa có.
    • Tiền án, tiền sự: Không
    • Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.
  2. Hứa Văn H, sinh năm 1999; HKTT: Xóm Cốc Sâu, xã C, Hện B, tỉnh Cao Bằng.
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hứa Văn Í, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1958; Vợ, con: Chưa có.
    • Tiền án, tiền sự: Không
    • Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa của bị cáo T: Ông Nguyễn Văn H – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh.

* Người bào chữa của bị cáo H: Ông Trần Văn Tr - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh.

* Bị hại: Công ty Cổ phần M; Địa chỉ: Lô 50 LK6, khu đô thị mới Đông Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện theo pháp luật: Ông Mai Anh Ph – Chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Xuân Th, sinh năm 1990; HKTT: Thôn 5, xã N, Hện N, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 23/12/2023, Nông Văn T, sinh năm 1997; HKTT: Thôn Nà Và, xã Đức H, Hện B, tỉnh Cao Bằng rủ Hứa Văn H, sinh năm 1999; HKTT: Xóm Cốc Sâu, xã C, Hện B, tỉnh Cao Bằng đi trộm dây cáp điện, H đồng ý. T mang theo 02 cưa tay bằng kim loại, 01 kìm kim loại chuôi màu đỏ đen, 01 dao dọc giấy có ốp màu xanh để vào bên trong ba lô màu đen rồi cùng H đi bộ khu nhà dân cư dịch vụ thuộc Khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thì phát hiện thấy 01 chiếc tủ điện đặt trên vỉa hè và phía sau tủ điện có đoạn dây cáp điện ngầm loại cáp đồng hạ thế Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 0,6/1 Kv 3x95+1x50 sqmm có vỏ màu đen, dài khoảng 35 mét chưa được nối vào tủ. T và H cùng nhau kéo đoạn dây cáp điện này ra bãi cỏ gần đó. H dùng cưa tay cắt đôi dây cáp điện này thành 2 đoạn, sau đó lấy dao dọc giấy cắt vỏ bên ngoài ra, còn T ngồi tước vỏ dây cáp điện để lấy dây lõi đồng bên trong đem đi bán. Sau khi lấy được đồng bên trong, T cuộn lại thành 04 cuộn và đem về cất giấu ở bụi cỏ phía sau nhà văn hoá khu Thượng rồi T và H đi về phòng trọ của T. Đến 10 giờ cùng ngày, cả 2 đi bộ ra khu vực cất giấu tài sản lấy 02 cuộn dây cáp đồng đi bán. Trên đường mang tài sản đi tiêu thụ thì T và H bị Cơ quan Công an phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh phối hợp với Đội cảnh sát hình sự Công an thành phố Bắc Ninh kiểm tra phát hiện bắt giữ

Vật chứng thu giữ: 04 cuộn cáp đồng; 01 ba lô màu đen bên trong có 02 cưa tay bằng kim loại, 01 kìm kim loại chuôi màu đỏ đen, 01 dao dọc giấy có ốp màu xanh.

Ngày 23/12/2023 anh Mai Xuân Thành – Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần M làm đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh.

Quá trình điều tra, Nông Văn T khai nhận: Khoảng 01 giờ, ngày 12/12/2023, một người tên là Nam, sinh năm 1999 ở Hện B, tỉnh Cao Bằng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen đến phòng trọ của T tại khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh cùng rủ nhau đi trộm cắp dây cáp

điện để bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. T chuẩn bị 02 cưa tay bằng kim loại, 01 kìm kim loại chuôi màu đỏ đen, 01 dao dọc giấy có ốp màu xanh để trong 01 ba lô màu đen rồi Nam điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen của Nam chở T đi đến khu nhà ở dân cư dịch vụ thuộc khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh. Tại đây, cả hai phát hiện thấy 01 chiếc tủ điện đặt trên vỉa hè, phía sau tủ điện có cáp điện ngầm loại cáp đồng hạ thế Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 0,6/1 Kv 4x50 sqmm dài khoảng 30 mét có vỏ bọc màu đen chưa được đấu nối vào tủ nên cùng nhau kéo đoạn dây cáp điện này ra ngoài bãi cỏ ở gần đó. Nam dùng cưa tay cắt đôi dây cáp ra thành 2 đoạn và lấy dao dọc giấy cắt vỏ bọc màu đen bên ngoài ra thì thấy bên trong có 04 dây cáp nhỏ lõi đồng có vỏ bọc màu trắng. Nam đưa dây cáp điện cho T để T tước vỏ màu trắng bọc bên ngoài dây cáp để lấy lõi đồng bên trong. Khi lấy được lõi đồng thì T cuộn tròn lại thành 04 cuộn, cất giấu vào bụi cỏ ở gần đó rồi cả hai đi về phòng trọ của T. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Nam điều khiển xe mô tô chở T đi đến vị trí cất giấu các cuộn dây cáp đồng. T đi vào lấy 04 cuộn dây cáp đồng rồi ngồi lên xe mô tô Nam chở mang đi bán. T bán các cuộn dây cáp đồng trên cho một người đàn ông không quen biết ở cửa hàng thu mua sắt vụn thuộc khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh được 3.700.000 đồng. T chia cho Nam 1.700.000 đồng, T được hưởng 2.000.000 đồng. Số tiền này T đã ăn tiêu cá nhân hết. Khoảng 3- 4 hôm sau vào khoảng 01 giờ, Nam điều khiển xe mô tô chở T đến vị trí giấu tài sản trộm cắp trước đó. Nam tiếp tục dùng dao dọc giấy tách vỏ dây cáp điện của đoạn cáp hôm trước vẫn còn thừa, T ngồi tước vỏ cáp điện để lấy dây cáp đồng bên trong. Khi lấy được lõi đồng thì T cuộn lại thành 04 cuộn cất giấu tại bụi cỏ rồi cả hai đi về phòng trọ của T. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Nam điều khiển xe mô tô chở T quay lại chỗ cất giấu dây cáp đồng rồi đem 04 cuộn dây cáp đồng đến hàng thu mua sắt vụn hôm trước T và Nam bán được 1.900.000 đồng, T, Nam chia nhau mỗi người được 950.000 đồng. Số tiền này T đã ăn tiêu cá nhân hết. Về chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen của Nam T không nhớ biển số. Về cửa hàng thu mua sắt vụn đã thu mua tài sản trộm cắp của T và Nam thì T cũng không nhớ địa chỉ ở đâu.

Tại bản Kết luận định giá số 398/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh kết luận: “- 01 đoạn dây cáp điện đồng hạ thế Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC - 0,6/1kV- 3x95=1x50 sqmm dài 30 mét, trị giá 18.456.180 đồng;

- 01 đoạn dây cáp điện đồng hạ thế Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC -0,6/1kV- 3x95=1x50 sqmm dài 35 mét, trị giá 38.793.090 đồng”.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 83/CT-VKSTPBN ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Nông Văn T về tội

“Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và Hứa Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình xét hỏi tại phiên toà,

Bị cáo Nông Văn T khai nhận ngày 12/12/2023 bị cáo cùng nam thanh niên tên Nam trộm cắp 30m dây điện trị giá 18.456.180 đồng và ngày 23/12/2023 bị cáo cùng H đã trộm cắp 35 m dây cáp điện trị giá 38.793.090 đồng tại khu nhà ở dân cư dịch vụ thuộc khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh của Công ty Cổ phần M.

Bị cáo Hứa Văn H đã khai nhận ngày 23/12/2023 T rủ bị cáo đi trộm cắp 35 m dây cáp điện trị giá 38.793.090 đồng tại khu nhà ở dân cư dịch vụ thuộc khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh của Công ty Cổ phần M

Anh Mai Xuân Thành – Đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, Công ty xác nhận nhận lại 04 cuộn dây cáp đồng nên không yêu cầu bị cáo T, H phải thanh toán số tiền 7.249.270 đồng là tự nguyện nên cần chấp nhận. Vì vậy, cần buộc bị cáo T và H phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền còn lại bị cáo trộm ngày 23/12/2023 là 31.543.820 đồng. Buộc bị cáo T phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại giá trị tài sản trộm cắp ngày 12/12/2023 theo kết luận định giá.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố Nông Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và Hứa Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nông Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Văn H từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
  • - Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo T phải bồi thường cho Công ty Cổ phần M số tiền là 18.456.180 đồng.
  • - Bị cáo bị cáo T và H phải liên đới bồi thường cho Công ty Cổ phần M số tiền là 31.543.820 đồng. Cụ thể mỗi bị cáo bồi thường 15.771.910 đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 kìm kim loại chuôi màu đỏ đen; 01 dao dọc giấy có ốp màu xanh; 02 tay cưa bằng kim loại.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo T trình bày bản luận cứ: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh xuất thân bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện

kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức phát luật kém. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt thấp nhất và miễn tiền án phí cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo H trình bày bản luận cứ: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh xuất thân bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức phát luật kém. Mặt khác, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo và miễn tiền án phí cho bị cáo.

- Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo nhất trí với phần luận tội và phần bào chữa của người bào chữa. Không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và không bổ sung gì về phần bào chữa của người bào chữa.

- Đại diện VKS đối đáp: Bị cáo H tuy phạm tội lần đầu nhưng giá trị tài sản chiếm đoạt lớn, bị cáo cũng chưa bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên giữ nguyên mức đề nghị hình phạt tù là phù hợp, tương xứng mức độ hành vi phạm tội của bị cáo H.

- Lời nói sau cùng của bị cáo T: Bị cáo đã rất ân hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Lời nói sau cùng của bị cáo H: Bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với không gian, phù hợp với thời gian, địa điểm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thấy đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 01 giờ, ngày 12/12/2023, tại khu nhà ở dân cư dịch vụ thuộc khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Nông Văn T và Nam đã có hành vi lén lút trộm cắp 30 m dây cáp điện đồng hạ thế nhãn hiệu Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 0,6/1 Kv 4x50 sqmm trị giá 18.456.180 đồng và đem bán các cuộn dây cáp đồng trên cho một người đàn ông không quen biết ở cửa

hàng thu mua sắt vụn được 5.600.000 đồng. T chia cho Nam 2.650.000 đồng, T được hưởng 2.950.000 đồng. Số tiền thu được từ việc trộm cắp T đã ăn tiêu cá nhân hết.

Khoảng 01 giờ ngày 23/12/2023, tại khu nhà ở dân cư dịch vụ thuộc khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Nông Văn T và Hứa Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 35m dây cáp điện đồng hạ thế loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 0,6/1 KV 3x95+1x50 sqmm trị giá 38.793.090 đồng, mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.

Tổng giá trị tài sản Nông Văn T chiếm đoạt là: 57.249.270 đồng, tài sản Hứa Văn H chiếm đoạt là 38.793.090 đồng

Vậy, Cáo trạng truy tố số 83/CT-VKSTPBN ngày 04 tháng 4 năm 2024 đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Hứa Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe, trừng trị đối với các bị cáo qua đó nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm góp phần tạo môi trường an ninh trật tự trên địa bàn khu dân cư của địa phương.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc thống nhất từ trước về việc trộm cắp tài sản cũng như không có sự câu kết phân công nhiệm vụ. Các bị cáo đều trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, sau đó ngồi tách lớp vỏ lấy lõi đồng. Bị cáo T là người khởi xướng và chuẩn bị dụng cụ, sau đó cùng H mang đi tiêu thụ. Do vậy, xác định các bị cáo T có vai trò cao hơn bị cáo H.

[4] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T đã thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản và giá trị tài sản đều đủ truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo HĐXX xét thấy cả hai bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng

lực nhận thức nhưng không làm chủ được bản thân mà thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc xử phạt các bị cáo hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo T có vai trò cao hơn bị cáo H nên có mức hình phạt bị cáo T cao hơn bị cáo H. Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại nhận lại 04 cuộn cáp đồng do bị cáo T, H trộm cắp ngày 23/12/2023 nên không yêu cầu bị cáo T, H phải thanh toán số tiền 7.249.270 đồng là tự nguyện nên cần chấp nhận. Vì vậy, cần buộc bị cáo T và H phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền còn lại bị cáo trộm ngày 23/12/2023 là 31.543.820 đồng. Buộc bị cáo T phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại giá trị tài sản trộm cắp ngày 12/12/2023 theo kết luận định giá.

[8] Về vật chứng: Ngày 29/3/2024, Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã trả cho Công ty Mai Hoàng Gia 04 cuộn cáp đồng. Đây là tài sản của bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh trả lại là phù hợp.

Đối với 01 ba lô màu đen bên trong có 02 cưa tay bằng kim loại, 01 kìm kim loại chuỗi màu đỏ đen, 01 dao dọc giấy có ốp màu xanh là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Liên quan vụ án: Đối tượng tên Nam, sinh năm 1999 ở Hện B, tỉnh Bằng do T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh chưa điều tra làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với người đàn ông không quen biết đã mua tài sản trộm cắp của T và Nam ở cửa hàng thu mua phế liệu tại khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nhưng T không nhớ là cửa hàng nào nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô T khai cùng Nam dùng để đi trộm cắp tài sản là xe của Nam, T không nhớ biển số xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa truy tìm được, khi nào truy tìm được sẽ xử lý sau.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật. Bị cáo Hòa thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nông Văn T và bị cáo Hứa Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023. Quyết định tạm giam bị cáo T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Văn H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 23/12/2023. Quyết định tạm giam bị cáo H 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
    • - Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự.
    • Buộc bị cáo T phải bồi thường cho Công ty Cổ phần M số tiền là 18.456.180 đồng.
    • Buộc các bị cáo T, H phải liên đới bồi thường cho Công ty Cổ phần M số tiền là 31.543.820 đồng (Mỗi bị cáo bồi thường 15.771.910 đồng).
  3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 kìm kim loại chuôi màu đỏ đen; 01 dao dọc giấy có ốp màu xanh; 02 tay cưa bằng kim loại (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/10/2023 giữa Công an thành phố Bắc Ninh với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).
    • - Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
    • - Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn T và bị cáo Hứa Văn H.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
    • Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
    • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân

sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an Tp. Bắc Ninh;
  • - THA dân sự Tp. Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 141/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoản 1 Điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger