|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2024/DS-PT
Ngày: 20/9/2024
Về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quý My.
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và ông Hoàng Văn Giang;
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Dương Thi Hương Liên- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 04 tháng 9 và ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2024/TLPT - DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 118/QĐPT - DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lục Văn Đ, sinh năm 1941, (có mặt).
Nơi cư trú: Xóm B, xã T, Thành phố P, Thái Nguyên. - Bị đơn: Ông Lục Văn N, sinh năm 1965, (có mặt).
Nơi cư trú: Xóm B, xã T, Thành phố P, Thái Nguyên. - Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công T-Chủ tịch UBND thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn D - Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, (Văn bản ủy quyền ngày 20/7/2020, ( vắng mặt). - Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Văn T1 - Chủ tịch UBND xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn L - Chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, (Văn bản ủy quyền ngày 20/10/2020, (vắng mặt). - Bà Lê Thị X, sinh năm 1965, (có mặt).
- Ông Lục Văn L1, sinh năm 1982, (có mặt);
- Ông Lục Văn H, sinh năm 1990, (có mặt);
- Ông Lục Văn T2, sinh năm 1987, (có mặt);
- Bà Mạch Thị H1, sinh năm 1995, (vắng mặt);
- Bà Diệp Thị H2, sinh năm 1988, (vắng mặt);
Đều cư trú tại: Xóm B, xã T, Thành phố P, Thái nguyên.
- Ủy ban nhân dân Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
- Người làm chứng:
- Bà Lê Thị G, sinh năm 1943, (vắng mặt).
- Anh Lục Văn T3, (vắng mặt);
- Ông Lưu Văn S, sinh năm 1950, (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm, (vắng mặt);
- Ông Lê Văn P, (vắng mặt)
- Ông Lê Văn T4, (vắng mặt);
- Ông Lục Văn T5, (vắng mặt);
- Ông Lê Văn T6, (vắng mặt);
- Bà Lục Thị T7, sinh năm 1980, (vắng mặt);
- Ông Lục Văn N2, sinh năm 1974, (vắng mặt);
- Bà Lục Thị H3, sinh năm 1968, (vắng mặt);
- Ông Lục Văn T8, sinh năm 1972, (vắng mặt);
- Ông Lục Văn B, sinh năm 1970, (vắng mặt);
- Ông Lục Quang T9; sinh năm, 1988, (vắng mặt);
- Ông Lưu Ngọc L2, sinh năm,1953, (vắng mặt);
Đều cư trú tại: Xóm B, xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. - Bà Lục Thị T10, sinh năm 1976, (vắng mặt);
Nơi cư trú: Xóm N, xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. - Ông Cao Trung H4 - Cán bộ lâm nghiệp UBND xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt);
- Ông Ngô Văn H5 - Cán bộ hạt kiểm lâm Thành phố P, (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 03/5/2018, đơn khởi kiện bổ sung 5/5/2018, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, biên bản hoà giải và tại các phiên tòa và bản án sơ thẩm phía nguyên đơn ông Lục Văn Đ trình bày:
Ông Đăng sinh ra và lớn lên tại xóm B, xã T, đến năm 1963 ông Đ xây dựng gia đình với bà Đỗ Thị C (bà C chết năm 1990). Trong quá trình chung sống ông bà sinh được 9 người con, trong đó có ông Lục Văn N (là con cả trong gia đình). Quá trình chung sống từ những năm 1974 đến năm 1978 ông bà đã khai phá được một diện tích đất ở xóm B, xã T để làm nhà, trồng sắn, trồng chè gồm các thửa 33,34,36 và 177. Thửa 36 diện tích đo đạc theo bản đồ địa chính năm 1989 xác định là 3.732 m². Năm 1984 vợ chồng ông Đ xây dựng gia đình cho ông N rồi sau đó cho vợ chồng ông N ra ở riêng trên thửa đất số 36 và cho ông N sử dụng diện tích 2.852 m² để ông N làm nhà và canh tác, số diện tích còn lại 880 m², gia đình ông sử dụng (các diện tích đất trên được xác định theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1989). Ông N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2.852 m² tại thửa 36 vào ngày 09/6/1994 và cấp đổi vào ngày 29/9/2009.
Thửa 33 gia đình ông trồng chè sau cho con trai là Lục Văn L1 phá chè lấy đất làm nhà ở, thửa 34 bãi chè hiện tại anh L1 đang sử dụng, thửa 177 có diện tích 3.412 m² (theo số đo năm 1989). Năm 1995 ông Đ cho ông N mượn để canh tác, khi cho mượn ông Đ giao kèo bằng miệng, sau này phải trả lại ông để ông cho con trai út là Lục Quang T9.
Thửa 33 diện tích 988 m², trên đất có nhà ở, công trình phụ của anh L1, thửa 34 có diện tích 520 m² trên đất có chè, anh L1 sử dụng; thửa 36 diện tích còn lại 880 m² anh L1 sử dụng trồng cây keo.
Vào tháng 9 năm 2013 ông Đ làm đơn đề nghị chính quyền địa phương kiểm tra, xác minh, đo đạc các thửa đất nêu trên để đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi tiến hành đo đạc thì ông N gây khó khăn không cho đo.
Năm 2014 ông Đ tiếp tục đề nghị đo đất thì ông N vẫn tiếp tục cản trở không cho đo vì thế mà ông đã phải làm đơn nhờ chính quyền địa phương giải quyết việc tranh chấp các thửa đất nói trên.
Năm 2015 ông N tự tiện làm nhà cho con trai là anh Lục Văn H ra ở riêng, khi ông Đ phát hiện hỏi ông N thì ông N nói: Ông N làm nhà trên đất của ông N khai hoang, việc ông N làm nhà trên thửa đất 177 ông Đ đã báo với trưởng xóm và đã đến lập biên bản, yêu cầu ông N, anh H phải dừng việc xây dựng lại vì đất đang có tranh chấp, nhưng gia đình ông N, anh H không đồng ý và không ký vào biên bản làm việc và vẫn tiếp tục xây dựng, ông Đ đã làm đơn ra UBND xã T đề nghị giải quyết từ những năm 2014, 2015, quá trình hoà giải tại xã T nhiều lần nhưng không thành vì thế mà ông Đ đã đề nghị chuyển hồ sơ đến Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) P để giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ nhiều lần và tiến hành đo bằng máy hai lần (vào năm 2019 và năm 2021). Số đo thể hiện có khác nhau về diện tích các thửa đất, ông Đ xác định do quá trình sử dụng và việc thực hiện việc đo vẽ ốp trên bản đồ địa chính từ năm 1989 và sau này quá trình sử dụng đường đi được mở rộng thêm nên diện tích đất thể hiện khác nhau. Tại phiên toà hôm nay ông Đ xác định lấy số đo do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện đo vẽ vào ngày 21/7/2021 để làm căn cứ giải quyết.
Cụ thể nay ông Đ yêu cầu ông N phải trả lại cho ông thửa 177 hiện trạng là 2008,3 m² (tuy nhiên anh H cũng là cháu của ông) thì ông sẽ cho anh H tương đương 1/3 diện tích đất này (chia cho anh H phần đất mà anh H đã làm nhà ở) còn lại yêu cầu ông N phải trả lại cho ông; thửa 33, 34,36a diện tích hiện trạng thể hiện là thửa 33 có diện tích là 2.461,8 m² và do các diện tích đất nêu trên ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông đề nghị công nhận quyền sử dụng đất này cho ông, để ông đi kê khai và cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật. Đối với đơn khởi kiện bổ sung của ông N đề ngày 22/11/2023 với nội dung yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp 5000 m2 đất trồng rừng cho anh Lục Văn N ngày 17/12/1999.
Tại bản tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Lục Văn N trình bầy: Ông là con trai của ông Lục Văn Đ (mẹ ông là bà Đỗ Thị C, đã chết năm 1990), bố mẹ ông sinh được 9 anh chị em, ông là con cả trong gia đình. Năm 1983 ông kết hôn với bà Lê Thị X, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ thời gian ngắn thì ra ở riêng. Khi ra ở riêng bố (ông Đ) có cho vợ chồng ông đất để làm nhà nhưng vợ chồng ông không làm nhà trên đất ông Đ cho mà vợ chồng ông tự khai phá đất để làm nhà, còn đất bố ông cho vợ chồng ông trước đó ông không sử dụng, hiện nay anh L1 đang sử dụng trồng chè.
Năm 1999 ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất đang sử dụng là 2.852m² tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 13; phần đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: phần còn lại của thửa 36, thửa 36a, thửa 33, thửa 34 mà hiện nay anh L1 đang sử dụng; thửa 177 ông cho con trai là Lục Văn H và anh Lục Văn T2 sử dụng (anh H đã làm nhà trên đất, anh T2 trồng cây trên đất).
Ông Đ cho rằng toàn bộ diện tích đất trên là do vợ chồng ông Đ khai phá và cho vợ chồng ông mượn sử dụng là không đúng. Khi ra ở riêng vợ chồng ông đã khai phá đất này và sử dụng đất, đến năm 2007 khi vợ chồng anh Lê r ở riêng đã đuổi đánh ông và sử dụng các thửa đất do vợ chồng ông đã khai phá trên.
Nay ông Đ khởi kiện ông đòi các thửa đất nêu trên ông không đồng ý trả lại đất theo như yêu cầu của ông Đ, ông yêu cầu được tiếp tục sử dụng các thửa đất do vợ chồng khai phá trước đó và hàng năm ông vẫn nộp thuế trên diện tích đất này.
Tại bản tự khai, tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lục Văn L1 trình bày: Anh là con trai của ông Lục Văn Đ, từ khi anh chưa lấy vợ, sống cùng bố anh đã được ông Đ cho đất để trồng chè tại các thửa đất số 33,34, 36, 36a, hiện nay vẫn còn gốc chè trên đất, sau này anh chuyển sang trồng keo trên đất.
Năm 2003 anh lấy vợ và ra ở riêng, ông Đ đồng ý cho vợ chồng anh làm nhà trên thửa đất số 33, được sử dụng các thửa đất 34, thửa 36a và cho một phần đất của thửa 36. Toàn bộ đất ông Đ cho anh quản lý và sử dụng nêu trên đều chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến năm 2013, 2014 bố anh mời địa chính về đo đất để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị anh N ngăn cản không cho đo và nhận toàn bộ diện tích đất đó là của anh N, sau đó thì anh N đã làm nhà trên thửa đất 177 thì bố anh đã báo chính quyền xóm đến lập biên bản và yêu cầu gia đình anh N phải tạm dừng việc xây dựng lại vì đất đang có tranh chấp, nhưng anh N và anh H không nghe và không ký vào biên bản nên đã xảy ra tranh chấp. Bố anh đã có đơn đề nghị UBND xã T vào giải quyết nhiều lần nhưng anh N không nghe nên không thể giải quyết được nên bố anh buộc lòng phải khởi kiện đến Toà án để đề nghị giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. Nay anh nhất trí với yêu cầu của ông Đ, đề nghị anh N phải trả lại các diện tích đất nêu trên cho bố anh là ông Đ, sau đó ông Đ cho ai sử dụng thì người đó được, mặc dù hiện nay anh là người đang quản lý và sử dụng toàn bộ diện tích đất tại thửa 33, 34, 36 và anh đã xây dựng các công trình là nhà ở, công trình phụ, sân vườn và cũng đã quây tường rào ngăn cách với đất của nhà anh N và anh đã trồng toàn bộ chè trên diện tích đất này nhưng anh N vẫn cứ nhận là của anh N, nên anh đề nghị anh N phải trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho bố anh là ông Đ. Sau đó ông Đ phân chia cho ai thì người đó được hưởng.
Tại bản tự khai, biên bản hoà giải và tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị X trình bày:
Chồng bà là ông Lục Văn N, là con trai ông Lục Văn Đ và bà Đỗ Thị C. Bà và ông N kết hôn năm 1983 và sinh được 06 con chung. Sau khi kết hôn vợ chồng ở chung với gia đình ông Đ được vài tháng thì ra ở riêng, bố chồng (ông Đ) cho đất làm nhà. Từ khi ra ở riêng vợ chồng bà đã khai phá thêm ra xung quanh đất.
Năm 2007 anh Lê r ở trên một phần đất do vợ chồng bà khai phá nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi ra ở cũng không hỏi ý kiến ông N. Hiện nay diện tích đất gia đình bà đang sử dụng nhưng chưa có giấy CNQSD đất, vợ chồng bà đã chia hết cho các con sử dụng, tại thửa 177 ông bà đã chia cho 2 con là Lục Văn H và Lục Văn T2.
Quá trình giải quyết vụ án bà có quan điểm: Về diện tích đất anh L1 đang sử dụng thì đồng ý để anh L1 tiếp tục sử dụng, còn phần đất ở dưới mà gia đình bà và các con đang sử dụng thì tiếp tục để cho gia đình bà sử dụng để ông Đ rút đơn kiện, nhưng ông N không đồng ý. Do bà là vợ không được quyền quyết định, nay bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lục Văn T2 trình bày: Anh là con trai của ông N và bà X, ông Đ là ông nội anh, đất anh đang sử dụng được bố mẹ anh cho anh trước khi kết hôn nên không liên quan đến vợ anh hiện nay (chị Mạch Thị H1). Diện tích đất anh đang sử dụng không liên quan đến đất tranh chấp giữa ông Đ và ông N, nguồn gốc đất do bố anh (ông N) khai phá, chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có trong sổ thuế do bố anh nộp thuế. Nay ông Đ kiện bố anh để đòi đất, anh đề nghị căn cứ giấy tờ do Nhà nước cấp cho hộ gia đình để giải quyết.
Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lục Văn H trình bày: Anh là con của ông N. Về phần diện tích đất đang tranh chấp giữa ông nội anh và bố anh thì anh không rõ cụ thể như thế nào, anh nhất trí với lời trình bày của bố anh là ông N đề nghị Toà án giải quyết theo giấy tờ mà Nhà nước đã cấp cho các bên.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/7/2021, của Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên (nay là thành phố P), xác định:
- - Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 13 (chưa có giấy chứng nhận QSD đất); diện tích theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1989 là 2.750,8m²; đo vẽ theo bản đồ địa chính xã T điều chỉnh năm 2013, hiện tại anh L1 đang sử dụng 2.459,0 m²; trên đất có nhà, công trình phụ cây cối, lâm lộc do anh L1 xây dựng và trồng;
- - Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 13; diện tích theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1989 có diện tích 3.732m² đất thổ cư, (giấy chứng nhận QSD đất cấp ngày 9/6/1994 tên chủ sử dụng Lục Văn N, diện tích theo bản đồ địa chính điều chỉnh đo vẽ năm 2013 là 2.852m²), hiện trạng theo ông N xác định và dẫn đạc là 1961,2 m² không tính diện tích bãi chè là 681,1 m², phần đất ông N sử dụng tiếp giáp với thửa 177 là 1038,3 m², phần đất ông N đang sử dụng giáp phía Đông của bãi chè là 485,9 m² và theo ông N xác định và dẫn đạc thì thửa 36 mà ông đang sử dụng còn có 364,9 m² đất mà ông Đ đang sử dụng. Như vậy thực tế phần đất mà ông N đang sử dụng là (1961,2 m² + 681,1 m²+ 485,9m²+ 1038,3 m²) = 4.166,5 m². Trên đất có 01 nhà 5 gian, công trình phụ do gia đình ông N xây dựng, sử dụng; 01 nhà 1 tầng, công trình phụ do anh Lục Văn T2 (con trai ông N) xây dựng và sử dụng.
- - Thửa 177, tờ bản đồ số 12 (chưa có giấy chứng nhận QSD đất); diện tích theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1989 xác định có diện tích 3.412m²; diện tích đo thực tế 2008,3m². Trên đất có 01 nhà 1 tầng, mái ngói; 01 nhà đang xây dựng dở (do anh Lục Văn H - Con trai ông N quản lý và một số cây keo do anh T2 trồng. (Diện tích đất hiện trạng được xác định theo bản đồ địa chính xã T đã điều chỉnh vào năm 2013).
Về giá trị tài sản trên đất, Biên bản định giá tài sản ngày 03/7/2019, xác định:
- - Tài sản trên thửa đất 33, tờ bản đồ số 13: 01 nhà 1 tầng (làm năm 2004), diện tích sử dụng 67,32m2; giá trị: 101.114.640đ; 01 mái hiên lợp tôn diện tích 19,2m2 trị giá 1.854.720đ; 01 sân lát gạch chỉ diện tích sử dụng 112,5m2 trị giá 5.343.750đ; 01 tường xây (gạch chỉ bổ trụ) 47,5m2, giá trị: 63.768.750đ; 01 công trình vệ sinh giá trị 6.051.300đ; 01 tường rào xây gạch chỉ 15,84m2 giá trị 11.011.068đ; 01 chuồng trại diện tích 27m2, giá trị 16.400.880đ. Toàn bộ công trình trên đất do anh L1 xây dựng.
- - Tài sản trên thửa đất 177, tờ bản đồ số 13: 01 nhà 1 tầng, tường xây gạch không nung, lợp ngói (chưa sơn, chưa hoàn thiện, xây dựng năm 2014), diện tích sử dụng 63m2, giá trị: 134.973.720đ. Toàn bộ công trình trên đất do anh H con ông N xây dựng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 200; 217; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ 166, Điều 203 Luật đất đai; Điều 166; Điều 189, Điều 190 của Bộ luật dân sự năm 2015; Luật người cao tuổi 2009 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lục Văn Đ đối với ông Lục Văn N về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Công nhận ông Lục Văn Đ được quyền sử dụng đối với thửa đất số 36a diện tích 722 m²; thửa đất số 33 diện tích 988 m²; thửa đất số 34 diện tích 528 m². Diện tích đo thực tế của các thửa đất trên là 2.459 m² thuộc thửa số 33, tờ bản đồ địa chính số 13; vị trí thửa đất thuộc xóm B, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, có số liệu các cạnh cụ thể theo sơ đồ đo vẽ của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện và sơ đồ phân chia đất của Toà án (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Buộc ông Lục Văn N, bà Lê Thị X phải có trách nhiệm trả lại cho ông Lục Văn Đ thửa đất số 36a diện tích 722 m²; thửa đất số 33 diện tích 988 m²; thửa đất số 34 diện tích 528 m². Diện tích theo đo đạc hiện trạng là 2.459 m² đất thuộc thửa số 33; tờ bản đồ địa chính số 13; vị trí thửa đất thuộc xóm B, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (có sơ đồ chi tiết kèm theo). Trên thửa đất có nhà chính, công trình phụ và lâm lộc do ông Lục Văn L1 xây dựng.
- Công nhận ông Lục Văn Đ được quyền sử dụng 1004 m² đất thuộc thửa 177, tờ bản đồ số 13; vị trí thửa đất tại xóm B, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, có số liệu các cạnh cụ thể theo sơ đồ đo vẽ của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện và sơ đồ phân chia của Toà án (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Buộc ông Lục Văn N, bà Lê Thị X, anh Lục Văn H, Lục Văn T2 phải có trách nhiệm trả lại cho ông Lục Văn Đ 1004 m² đất thuộc thửa 177, tờ bản đồ số 13; vị trí thửa đất tại xóm B, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (có sơ đồ chi tiết kèm theo). Buộc ông N, bà X và các thành viên trong gia đình ông N phải thu hoạch cây cối trên thửa đất nếu có để trả lại mặt bằng đất cho ông Lục Văn Đ.
- Công nhận cho ông Lục Văn N được quyền sử dụng 1004,3 m² đất tại thửa 177, tờ bản đồ số 13; vị trí thửa đất tại xóm B, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, có số liệu các cạnh cụ thể theo sơ đồ đo vẽ của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện và sơ đồ phân chia của Toà án (có sơ đồ chi tiết kèm theo). (Tương ứng với công sức duy trì tôn tạo thửa đất 177 của ông N và các thành viên trong gia đình ông N). Trên đất có công trình nhà ở do anh Lục Văn H xây dựng.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
- Về chi phí đo đất, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Đ, ông N mỗi người phải chịu 12.827.500đ (mười hai triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng). Ông N đã nộp tạm ứng 10.000.000đồng (mười triệu đồng) còn phải trả lại cho ông Đ 2.827.500đ (hai triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng). Số tiền 4.345.000đồng (bốn triệu ba trăm bốn mươi năm nghìn đồng) là tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định, định giá và đo đất còn thừa đã được trả lại cho ông Lục Văn Đ.
- Về án phí: Buộc ông Lục Văn N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước. Hoàn trả lại cho ông Lục Văn Đ 10.000.000đồng (mười triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009881 ngày 21/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) P, tỉnh Thái Nguyên.
- Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 29/12/2023 ông Lục Văn N và bà Lê Thị X kháng cáo bác toàn đơn khởi kiện của ông Đ nêu trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình ông, bà tại thửa đất 36ª, 33, 34, 177 tờ bản đồ số 13.
Tại phiên tòa phúc thẩm đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như nêu trên;
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự : - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà X do vắng mặt lần hai không có lý do chính đáng; - Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn Nỏ, sửa bản án sơ thẩm xác định các thửa đất 33, 34, 36a, 177 là tài sản chung của ông Đ và bà C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện VKS phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Thủ tục thụ lý đơn khởi kiện: Ông Lục Văn Đ có đơn khởi kiện tại Tòa án đối với ông Lục Văn N, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Bị đơn ông Lục Văn N có hộ khẩu và đang cư trú tại xóm B, xã T; Địa chỉ đất tranh chấp tại xóm B, xã T, thị xã P (nay là Thành phố P). Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên (nay là Thành phố P) thụ lý đơn khởi kiện là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 191 của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều xác định quyền sử dụng đất tại các thửa 343, 34, 36a, 177 nêu trên đều là tài sản chung của ông Đ và bà C; Bà C chết năm 1990 không để lại di chúc, do vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định và giao quyền sử dụng đất cho một mình ông Đ là chưa bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự, chưa phù hợp quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: UBND Thành phố P; UBND xã T vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt, những người làm chứng vắng mặt. Những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo là bà Lê Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do hoặc vì lý do bất khả kháng nào khác, do vậy được xác định là từ bỏ quyền kháng cáo, cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà X.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Diện tích đất mà các bên đang tranh chấp đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là có căn cứ. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đơn kháng cáo của bị đơn phù hợp quy định tại điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lục Văn Đ Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về nguồn gốc các thửa đất: Số 33 diện tích 988 m², thửa số 34 diện tích 528 m², thửa số 36a diện tích 722 m², thửa số 36b diện tích 3.732 m², thửa số 177 diện tích 3.412 m², thuộc tờ bản đồ số 13; vị trí tại xóm B, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên theo ông Lục Văn Đ xác định do vợ chồng ông khai hoang từ năm 1974 đến năm 1978.
Quá trình giải quyết vụ án Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành họp lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại các thửa: 33,34,36 tờ bản đồ số 13 và thửa số 3 bản đồ Lâm nghiệp số 3 vào ngày 07/8/2015: Thành phần gồm có ông Nguyễn Văn H6 và ông Nguyễn Sông C1- đều là Cán bộ địa chính xã T, ông Dương Văn C2- Phó chủ tịch UBND xã T, thời điểm năm 2015 và đại diện các hộ dân của xóm B1 là: Ông Lục Văn B2, sinh năm 1946; ông Lưu Ngọc L2, sinh năm 1953, bà Lê Thị G, sinh năm 1945 và ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1950. Xác định và thống nhất ý kiến: “Các thửa đất nêu trên là do ông Lục Văn Đ khai phá từ khoảng năm 1978, sau đó sử dụng từ thời điểm đó đến năm 2014 thì xẩy ra tranh chấp với ông Lục Văn N. Vào thời điểm năm 2003 ông Đ cho con trai là Lục Văn L1 ra ở riêng và làm nhà ở tại thửa 33 diện tích 988 m2; hai thửa đất số 34,36 hiện tại ông Đ đang trồng chè và canh tác trên thửa đất đó. Từ khi khai phá và sử dụng ông Đ đều nộp thuế. Về thửa đất trồng rừng số 03 ông Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999. Sau khi cấp giấy chứng nhận ông Đ cho con trai là anh N trồng cây để phát triển kinh tế, đến năm 2014 ông Đ đòi lại nhưng ông N không trả.
Tại biên bản họp lấy ý kiến khu dân cư ngày 03/3/2017 của Ủy ban nhân dân xã T về xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tại thửa 177, tờ bản đồ số 12 diện tích theo bản đồ địa chính đo đạc năm1989 là 3412 m² có nguồn gốc do ông Lục Văn Đ khai phá khoảng năm 1987, đến năm 1988 ông Lục Văn N tiếp tục sử dụng đến nay và đã xây nhà cho con trai là Lục Văn H ra ở riêng từ đầu năm 2015... Đối với thửa đất 33 diện tích 988 m², thửa 34 diện tích 528 m², thửa 36 diện tích 722 m² tờ bản đồ số 13 theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1989. Nguồn gốc do ông Lục Văn Đ khai phá khoảng năm 1978, năm 2004 xây nhà cho con trai là Lục Văn L1 ra ở riêng tại thửa 33 và canh tác trồng chè tại các thửa 34, 36 đến nay. Đối với diện tích trồng keo khoảng 429 m² nguồn gốc do ông Lục Văn Đ khai phá khoảng năm 1978, nhưng sau đó không rõ ai sử dụng. Đến năm 2006 thấy ông N tiếp tục sử dụng trồng keo đến nay. Đối với diện tích đất trồng rừng khoảng 20000 m2 năm 1991 hộ ông Lục Văn Đ đã ký hợp đồng trồng rừng với hợp tác xã B1 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999, tại thửa số 3 tờ bản đồ Lâm nghiệp số 3.
Trong quá trình giải quyết vụ án những người làm chứng trình bày:
- - Ý kiến của ông Lưu Văn S: Ông S không có quan hệ họ hàng, không có mâu thuẫn với ông Đ, ông N. Thời điểm ông S đang tham gia công tác xã hội trong xóm B, ông S chứng kiến diện tích đất đang tranh chấp thuộc về ông Đ là người khai phá đầu tiên từ những năm 1977-1978, đất đồi Guột, tại thời điểm này ông S đang là thủ quỹ của hợp tác xã xóm B, ông Đ đã khai phá và có trồng một số loại cây như chè, sắn, từ năm 1990 gia đình ông Đ đã đổi sang trồng keo, trồng chè. Sau đó ông Đ cho ông N ra ở riêng tại mảnh đất phân chia chưa rõ ràng. Ông N lúc đó chưa biết giữ đất để làm nhà, đất hoàn toàn do ông Đ cho. Sau khi ông N lấy vợ cho con muốn cho ra ở riêng mới nảy sinh để chiếm đất, lúc bấy giờ bố con mới mâu thuẫn, tranh giành. Ông S khẳng định nguồn gốc đất đang tranh chấp là do ông Đ khai phá.
- - Ông Nguyễn Văn N1: Ông N1 là hàng xóm từ năm 1960 của ông Lục Văn Đ, không có quan hệ họ hàng, không có mâu thuẫn với ông Đ, ông N. Năm 1978, 1979 vợ chồng ông Đ khai phá diện tích đất đồi tại xóm B, xã T để có đất làm ăn. Vợ chồng ông Đ ban đầu đã trồng chè, trồng sắn, đến khoảng năm 1990 thì chuyển sang trồng keo ở một phần đất. Khi có tranh chấp giữa ông Đ và ông N, ông N cho rằng ông N là người khai phá đất đồi từ năm 1985 là không đúng sự thật, những thửa đất đó đều do vợ chồng ông Đăng giữ và sở hữu từ những năm 1978, 1979. Gia đình ông Đ khai phá và giữ toàn bộ khu đất nói trên từ lâu, từ khi ông N còn bé, nếu ông Đ không giữ được thì người khác cũng khai phá thì gia đình ông N cũng không có chỗ đất hiện nay, còn ông Đ cho ông N bao nhiêu và từ đâu đến đâu thì ông N1 không biết.
- - Bà Lê Thị G: Bà G ở cùng xóm, không có quan hệ họ hàng, không mâu thuẫn với ông Đ. Bà G lấy chồng và về xóm B1 ở từ năm 1962 cho đến nay. Đất của gia đình bà G và đất của gia đình ông Đ (hiện nay ông N đang sử dụng) chỉ cách nhau 01 con đường, do vậy bà G biết rõ việc trước đó ông Đ đã khai phá. Năm 1978, 1979, ông Đ khai phá toàn bộ diện tích đất đồi tại xóm B để lấy đất làm ăn, trồng chè, trồng sắn, từ năm 1990, gia đình ông Đ chuyển sang trồng keo, bạch đàn. Sau khi ông N lấy vợ thì ông N ra ở riêng và ở trên đất, anh Lê r ở sau ông N. Quá trình sử dụng ông N có khai phá thêm xung quanh một chút nhưng không nhiều, chủ yếu vẫn sử dụng đất do ông Đ khai phá và giữ từ trước. Khi xảy ra tranh chấp, ông N cho rằng ông N khai phá đất đồi từ năm 1985 là không đúng sự thật, toàn bộ những thửa đang tranh chấp giữa 02 bố con đều do ông Đ và vợ khai thác, trồng cây từ năm 1978, 1979.
- - Ông Lục Văn N2, bà Lục Thị T10, bà Lục Thị T7, ông Lục Quang T9, bà Lục Thị H3, ông Lục Văn T8, ông Lục Văn B là các con của ông Đ đều trình bày: diện tích đất đai tranh chấp giữa ông Đ và ông N có nguồn gốc là do ông Đ khai phá từ năm 1978, sau đó năm 1984 ông N ra ở riêng tại thửa 36, tờ bản đồ 13 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa 177 cho ông N mượn và các thửa đất trên nhà anh L1 ở, ông Đ đã đòi ông N không trả mà còn cho con xây nhà ra ở. Nay các con của ông Đ đều xác định ông Đ toàn quyền quyết định, sau này ông Đ cho ai là quyền của ông Đ.
Quá trình giải quyết vụ án ông N xuất trình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số D 0088764 do UBND huyện P (nay là thành phố) Phổ Yên cấp ngày 09/6/1994 mang tên hộ ông Lục Văn N, với tổng diện tích là 6.901 m² đất, trong đó gồm thửa 36, tờ bản đồ số 13 diện tích 2.852 m² đất thổ cư và 09 thửa đất canh tác. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã yêu cầu Uỷ ban nhân dân thị xã (nay là thành phố P) cung cấp hồ sơ cấp đất. Theo Phòng T11 (nay là thành phố) Phổ Yên cung cấp thì hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSD đất là hồ sơ cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho ông N ngày 22/10/1994, tại thời điểm này hồ sơ cấp Giấy chứng nhận lần đầu không lưu ở Phòng Tài nguyên và Môi trường mà lưu ở UBND xã T. Theo hồ sơ địa chính đang lưu giữ tại UBND xã T hộ ông N được cấp Giấy chứng nhận lần đầu ngày 22/10/1994 gồm 10 thửa. Đại diện UBND xã T cung cấp: Đối với hồ sơ cấp GCNQSDĐ của ông N, hiện nay UBND xã T chỉ lưu giữ tại sổ địa chính, theo sổ địa chính ghi ngày 22/10/1994, hiện tại ông N đang sử dụng thửa đất số 36, tờ bản đồ 13, diện tích 2.852 m², ngoài ra còn 09 thửa đất canh tác khác.
Ngoài ra ông N còn xuất trình GCNQSD đất do UBND huyện P cấp ngày 17/12/1999 đối với 5.000 m² đất rừng tại thửa số 17, tờ bản đồ số 3, mang tên hộ ông N. Theo ông N, thì diện tích 988 m² tại thửa số 33 và diện tích đất 528 m² tại thửa số 34 (hiện nay anh L1 đang sử dụng) nằm trong phần diện tích đất rừng 5.000 m² tại thửa số 17 tờ bản đồ số 3 mà ông N đã được cấp GCNQSDĐ. Toà án cũng đã yêu cầu UBND thành phố P cung cấp toàn bộ hồ sơ cấp đất rừng của ông N. Theo kết quả Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P cung cấp thì qua tra cứu hồ sơ lưu trữ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P xác định không có hồ sơ cấp đất đối thửa 17, tờ bản đồ số 3 của hộ ông Lục Văn N thuộc xã T, Thành phố P. Toà án đã yêu cầu UBND xã T cung cấp về hồ sơ cấp đất đối với thửa đất rừng của ông N, tuy nhiên hồ sơ cấp đất này cũng không được lưu giữ ở UBND xã T.
Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên đã tiến hành xác minh thực địa với cán bộ phụ trách chuyên môn của xã T, kết quả xác minh: Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 3, diện tích 5.000 m² cấp cho ông Lục Văn N tại GCNQSD đất số Q 715471 ngày 17/12/1999, mục đích trồng rừng không nằm ở vị trí thửa đất số 33, 34, 36 tờ bản đồ số 13 mà hiện nay gia đình anh Lục Văn L1 đang sử dụng. Vị trí thửa đất số 17, tờ bản đồ số 3, diện tích 5.000 m² theo bản đồ giao đất, giao rừng năm 1999 có vị trí nằm ở phía Đông Nam, giáp với nhà ông N, kéo dài lên phần mộ của ông Hai Q. Phần diện tích đất mà anh L1 đang sử dụng (thửa số 33, 34) không phải là thửa số 17, tờ bản đồ số 3, đất rừng của ông N. Do đó có căn cứ để xác định: Diện tích đất rừng 5.000 m² (mục đích sử dụng R.T) ông N đã được cấp GCNQSDĐ số Q 715471 ngày 17/12/1999 không trùng với diện tích 988 m² tại thửa số 33 và diện tích đất 528 m² tại thửa số 34 (hiện nay anh L1 đang sử dụng).
Quá trình giải quyết vụ án, ban đầu ông N cho rằng phần đất đang tranh chấp toàn bộ là do ông khai hoang, về sau trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà thì ông N lại công nhận một phần thửa đất từ gốc cây Vạng trở lên đến giáp phần sân của nhà anh L1 là đất do ông Đ khai phá, phần còn lại gồm nhà chính, sân, công trình phụ và một số diện tích mà anh L1 đang sử dụng kéo ngược về phía sau nhà chính của nhà anh L1 là thửa đất rừng 5.000m² của ông mà ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1999 và hàng năm ông vẫn đóng thuế trên diện tích đất này, ông có xuất trình các biên lai nộp thuế và phần đất mà anh Lê q tường rào bên trong có cây keo diện tích theo bản đồ địa chính năm 1989 là 880 m² là đất thổ cư mà ông N đã được cấp quyền sử dụng đất vào năm 1994 và được cấp đổi vào năm 2009 trong đó có 1.800 m² đất ở và 1052 m² đất cây lâu năm, anh L1 đã lấn chiếm, xây tường rào, trồng một phần cây keo trên phần diện tích 880 m² thuộc thửa đất này, keo ông N trồng xung quanh, anh Lê c trồng ở giữa, ông N không đồng ý việc anh Lê x tường rào bao quanh và trồng cây trên đất, ông N đề nghị anh L1 phải trả lại phần diện tích 880 m² này cho ông N.
Xét thấy quá trình xem xét thẩm định tại chỗ ông N dẫn đạc tại thửa 36 hiện trạng thực tế là 1961,2 m² không tính diện tích bãi chè, theo bản đồ địa chính bãi chè này có diện tích 681,1 m², phần đất trống trước bãi chè có diện tích 1038,3 m² và phần giáp bãi chè về phía Đông có diện tích 485,5 m². Như vậy diện tích đất tại thửa C mà gia đình ông N đang sử dụng có diện tích lớn hơn trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do vậy việc ông N xác định phần diện tích đất mà anh L1 đã xây quây tường và trồng cây keo là thuộc thửa đất số 36 của ông N là không có căn cứ. Mặt khác theo các biên lai thu thuế do chính ông N cung cấp có nội dung thuế cây hàng năm và thuế cây lâu năm chứ không phải thuế đất rừng tại thửa 17 như ông N trình bày, bên cạnh đó các tài liệu do ông N cung cấp đều là bản phô tô và bị sửa chữa, tẩy xoá nhiều do đó không có giá trị để chứng minh.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông Đ xác định vào năm 2004, con trai thứ của ông là Lục Văn L1 ra ở riêng, ông Đ cho anh L1 các thửa đất: số 33 diện tích 988 m² là bãi chè của gia đình để ông Lê 1 nhà ở (anh L1 đã làm nhà và công trình phụ từ năm 2004), thửa số 34 diện tích 528 m² để trồng chè và thửa số 36a diện tích 722 m² ông L1 đang trồng chè, thửa số 36b diện tích 880 m² để canh tác, anh L1 đã trồng chè và keo trên diện tích đất này từ đó đến nay, ông N không trồng cây hay làm gì trên thửa đất này. Mặt khác, tại GCNQSD đất số D 0088764 ngày 09/6/1994 cấp cho ông N và sổ địa chính của xã T thì thửa đất số 36 của ông N là thuộc tờ bản đồ số 22. Do vậy, việc ông N cho rằng diện tích đất 880 m² tại thửa số 36b anh L1 đã lấn chiếm của ông là không có căn cứ.
Với những chứng cứ và phân tích ở trên đến nay có đủ căn cứ để xác định về nguồn gốc đất của các thửa đất đang tranh chấp là do ông Lục Văn Đ khai phá từ những năm 1974, 1978, được cộng đồng dân cư, những người già cùng sinh sống tại thời điểm đó và chính quyền xóm, xã thời điểm đó chứng kiến và xác nhận các thửa đất ông Đ đang khởi kiện có nguồn gốc do ông Đ khai phá, sử dụng liên tục, ổn định, không có tranh chấp, chưa được cấp GCNQSDĐ, thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Đ. Quá trình xác minh cũng xác định được các thửa đất đang tranh chấp không phải là đất công, không nằm trong diện quy hoạch hay bị thu hồi để sử dụng vào mục đích chung. Do vậy có căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Đối với đơn khởi kiện bổ sung của ông Đ đề ngày 22/11/2023 với nội dung yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp 5000 m2 đất trồng rừng của ông Lục Văn N ngày 17/12/1999, xét yêu cầu của ông Đ không có căn cứ như đã nhận định nêu trêu trên, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Đ.
Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành xem xét thẩm định và đo đất thể hiện trên hai sơ đồ đo đất và được thực hiện vào hai thời điểm khác nhau. Thời điểm đo đất năm 2019 dựa trên bản đồ địa chính năm 1989 còn hiện trạng thực tế được thể hiện theo trích đo năm 2021 dựa trên bản đồ địa chính đã được điều chỉnh năm 2013 nên diện tích đất thể hiện khác nhau. Ông Đ xác định diện tích đất tranh chấp xác định theo đúng hiện trạng đo đất do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thực hiện vào năm 2021 làm căn cứ giải quyết.
Phía ông N xác định các thửa đất đang tranh chấp là do ông N khai phá và sử dụng là không có căn cứ, ông N không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh diện tích đất đó là do ông N khai phá cũng như qua lấy ý kiến của cộng đồng dân cư đều xác định diện tích đất mà các bên đang tranh chấp là do chính ông Đ khai phá và sử dụng từ những năm 1977, 1978, khi đó ông N mới được hơn 10 tuổi, mặt khác trong quá trình sử dụng ông Đ đã hai lần yêu cầu cán bộ địa chính đến xác định và thực hiện việc đo đất để ông đi kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào những năm 2014, 2015 nhưng đều bị ông N ngăn cản và việc ông N cho con trai là Lục Văn H xây nhà trên thửa đất 177 khi ông Đ phát hiện cũng đã mời chính quyền đến lập biên bản và yêu cầu gia đình ông N tạm dừng việc xây dựng vì đất đang có tranh chấp nhưng gia đình ông N không chấp hành, không ký vào biên bản (văn bản được ông Đ cung cấp lưu giữ trong hồ sơ vụ án). Như vậy cho thấy ngay từ những năm 2014, 2015 gia đình ông Đ đã có đơn yêu cầu giải quyết về thửa đất 177. Lẽ ra cần buộc anh H phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên thửa đất 177 để trả lại mặt bằng đất cho ông Đ. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết và tại phiên toà ông Đ xác định thửa đất này ông Đ cho ông N mượn và khi mượn ông Đ cũng đã giao hẹn bằng lời với ông N là khi nào ông Đ đòi thì ông N phải trả lại để ông còn cho con trai út là Lục Quang T9 và anh Trần hiện này vẫn ở cùng ông chưa được ông chia đất trong khi đó các con của ông đều đã được ông phân chia đất cho ở riêng. Nhưng khi ông Đ đòi thì ông N không trả. Như vậy có căn cứ để xác định việc ông Đ cho ông N mượn thửa đất 177 là có căn cứ bởi từ năm 2014, 2015 khi anh N cho con trai làm nhà để ở thì ông Đ đã có đơn yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên xét thấy về nguồn gốc thửa đất này cũng là do ông Đ khai phá tuy nhiên từ nhiều năm nay ông N và các con của ông N là người trực tiếp sử dụng và cũng có công duy trì tôn tạo thửa đất này, bản thân ông Đ cũng xác định anh H cũng là cháu ông nên ông đồng ý cho anh H 1/3 diện tích đất phần anh H đã xây dựng các công trình. Xét thấy đây là quyền tự định đoạt của cá nhân ông Đăng xét là phù hợp quy định của pháp luật cần ghi nhận. Thửa đất 177, diện tích đo theo kết quả trích đo ngày 21/7/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện là 2.008,3 m², do vậy diện tích tương đương là 700m2.
Đối với thửa đất số 36a diện tích 722m²; thửa đất số 33 diện tích 988m²; thửa đất số 34 diện tích 528 m², trên thực tế theo kết quả trích đo tháng 7/2019 của công ty TNHH H7 thực hiện các thửa trên là thửa số 34 diện tích đo là 2.459 m²: Ông Đ đã cho anh Lê t đất số 33 diện tích 988 m² là bãi chè của gia đình để ông L1 làm nhà ở (anh L1 đã làm nhà và công trình phụ từ năm 2004), thửa số 34 diện tích 528 m² để trồng chè và thửa số 36a diện tích 722 m² ông L1 đang trồng chè; diện tích 776,6 m² tại thửa số 36b để canh tác, anh L1 đã trồng chè và keo. Những thửa đất này đều do ông Đ khai phá, thuộc quyền định đoạt của ông Đ, ông N không được ông Đ cho mượn hay tặng cho, do vậy ông N phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Đ quản lý, sử dụng (về thực tế những thửa đất này từ trước đến nay vẫn do gia đình ông Đ (cho con trai là anh L1 ) quản lý và sử dụng, ông N chưa bao giờ được quản lý và sử dụng những thửa đất này.
Đối với tài sản trên đất thửa 33, 34, 36 được xác định là thửa 33 gồm có các công trình xây dựng trên đất và cây chè, cây keo đều do anh L1 xây dựng và trồng. Anh L1 cũng đang là người quản lý và sử dụng thửa đất này theo sự đồng ý của ông Đ. Tuy nhiên phía ông N vẫn nhận diện tích đất này là của ông N nên vẫn cần buộc ông N phải trả lại cho ông Đ diện tích đất này và cần công nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ còn giữa ông Đ và anh L1 sẽ tự giải quyết với nhau.
Đối với các công trình trên đất tại thửa 177 do anh H là con trai của ông N xây dựng, xong anh H cũng có ý kiến về diện tích đất đang tranh chấp là của ông N nên giữa ông N và anh H sẽ tự giải quyết với nhau.
[6] Về án phí: Đây là vụ án về tranh chấp quyền sử dụng đất, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa xác định được mục đích sử dụng, nên xác định là vụ án không có giá ngạch. Yêu cầu của ông Lục Văn Đ được chấp nhận một phần nên ông Lục Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng. Một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ không được chấp nhận, lẽ ra ông Đ phải chịu án phí không có giá ngạch, xong do ông Đ là người cao tuổi nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 16 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội nên miễn toàn bộ án phí dân sự cho ông Đ. Khi thụ lý vụ án ông Đ đã nộp tạm ứng án phí là 10.000.000 đồng, nên hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí này cho ông Đ. Buộc bà X phải chịu án phí dân sự phúc thẩm sung ngân sách Nhà nước; Ông N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Đối với chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Về chi phí xem xét thẩm định, định giá và đo đất lần thứ nhất (đo đất 11.955.000đồng; chi phí xem xét thẩm định, định giá nhiều lần tổng cộng là: 13.700.000đồng. Tổng cộng chi phí tố tụng là: 25.655.000đồng. Do yêu cầu của ông Đ được chấp nhận một phần nên mỗi người phải chịu một ½ chi phí xem xét là 12.827.500đ. Ông Đ đã nộp tạm ứng 2 lần là 20.000.000đồng, ông N nộp tạm ứng 10.000.000đồng do vậy ông N phải có trách nhiệm trả cho ông Đ 2.827.500 đồng nữa và ông Đ được hoàn trả lại 4.345.000đồng tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp còn thừa và Toà án đã trả lại cho ông Đ số tiền này.
[8] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 2 Điều 308; Điều 148; Điều 26; 35; 39; 147; 157; 165; 289; khoản 5 Điều 308, khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ 166, Điều 203 Luật đất đai; Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Luật người cao tuổi 2009 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị X.
Không chấp nhận kháng cáo của của ông Lục Văn N. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lục Văn Đ đối với ông Lục Văn N về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Xác nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 36a diện tích 722 m²; thửa đất số 33 diện tích 988 m²; thửa đất số 34 diện tích 528 m². (Diện tích đo thực tế của các thửa đất trên là 2.461,8 m² thuộc thửa số 33, tờ bản đồ địa chính số 13); Vị trí thửa đất thuộc xóm B, xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, có số liệu các cạnh cụ thể theo sơ đồ đo vẽ của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố P thực hiện và sơ đồ phân chia đất của Toà án là tài sản chung giữa ông Lục Văn Đ và bà Đỗ Thị C. (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Buộc ông Lục Văn N và bà Lê Thị X phải có trách nhiệm trả lại thửa đất số 36a diện tích 722 m²; thửa đất số 33 diện tích 988 m²; thửa đất số 34 diện tích 528 m². (Diện tích đo thực tế của các thửa đất trên là 2.461,8 m² thuộc thửa số 33, tờ bản đồ địa chính số 13); Vị trí thửa đất thuộc xóm B, xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên cho ông Lục Văn Đ và bà Đỗ Thị C. Trên thửa đất có nhà chính, công trình phụ và lâm lộc do ông Lục Văn L1 xây dựng.
- Xác định quyền sử dụng 1308,3 m² đất thuộc thửa 177, tờ bản đồ số 13; vị trí thửa đất tại xóm B, xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, có số liệu các cạnh: ABCDEFGHIKLMNA theo sơ đồ đo vẽ chỉnh lý tháng 9/2024 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố P thực hiện và sơ đồ phân chia của Toà án là tài sản chung của ông Lục Văn Đ và bà Đỗ Thị C.
- Buộc ông Lục Văn N, bà Lê Thị X, anh Lục Văn H, Lục Văn T2 phải có trách nhiệm phải thu hoạch cây cối trên thửa đất, (nếu có) để trả lại trả lại tài sản chung cho ông Lục Văn Đ và bà Đỗ Thị C 1308,3 m² đất thuộc thửa 177, tờ bản đồ số 13; Vị trí thửa đất tại xóm B, xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên có số liệu các cạnh: ABCDEFGHIKLMNA theo sơ đồ đo vẽ chỉnh lý tháng 9/2024 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố P thực hiện và sơ đồ phân chia của Toà án là tài sản chung của ông Lục Văn Đ và bà Đỗ Thị C.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lục Văn Đ cho ông Lục Văn N được quyền sử dụng 700,0 m² đất tại thửa 177, tờ bản đồ số 13; vị trí thửa đất tại xóm B, xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, có số liệu các cạnh: AXSRQPONA theo sơ đồ đo vẽ của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố P thực hiện và sơ đồ phân chia của Toà án. Trên đất có công trình nhà ở do anh Lục Văn H xây dựng.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận của ông Lục Văn Đ đối với ông Lục Văn N về diện tích 5000 m2 đất trồng rừng tại thửa 17 tờ bản đồ số 3 mang tên hộ gia đình ông Lục Văn N.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Đ, ông N mỗi người phải chịu 12.827.500 (mười hai triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng). Ông N đã nộp tạm ứng 10.000.000 (mười triệu đồng) còn phải trả lại cho ông Đ 2.827.500 (hai triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng). Số tiền 4.345.000 (bốn triệu ba trăm bốn mươi năm nghìn đồng) là tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định, định giá và đo đất còn thừa đã được trả lại cho ông Lục Văn Đ.
- Về án phí:
Buộc ông Lục Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được đối trừ 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001458 ngày 02/01/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Phổ Yên sang.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lục Văn Đ, hoàn trả lại cho ông Lục Văn Đ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009881 ngày 21/01/2019 của chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là T) P, tỉnh Thái Nguyên.
Bà Lê Thị X phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được chuyển từ biên lai thu tạm ứng án phí số 0001459 ngày 02/01/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Phổ Yên sang.
Ông Lục Văn N và ông Lục Văn Đ không phải chịu án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Quý My |
Bản án số 141/2024/DS-PT ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 141/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lục Văn Đ đối với ông Lục Văn N về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận của ông Lục Văn Đ đối với ông Lục Văn N về diện tích 5000 m2 đất trồng rừng tại thửa 17 tờ bản đồ số 3 mang tên hộ gia đình ông Lục Văn N.
