Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 141/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 – 8 – 2024

V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Tân – Bà Nguyễn Thị Hân
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên toà.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 393/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 524/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 473/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Huỳnh M, sinh năm 1993; SĐT: 0985.624.xxx
  • Nơi cư trú: số G, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  • - Bị đơn: Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1988; SĐT: 0337.485.xxx
  • Nơi cư trú: số B, đường T, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Bùi Thị Huỳnh M trình bày:

Về mối quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Huỳnh M và ông Đỗ Văn N chung sống với nhau từ năm 2016, đến năm 2019 đăng ký kết hôn và đã được UBND xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/5/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do cách sống giữa hai bên không hợp nhau, tính tình không hợp. Ông N không có quan tâm, chăm lo gia đình, không phụ giúp kinh tế gia đình. Ông N thường xuyên bỏ nhà đi chơi, bà đã nhiều lần khuyên can nhưng ông N vẫn không thay đổi. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vả và ngày càng nghiêm trọng. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay bà Bùi Thị Huỳnh M xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Bùi Thị Huỳnh M được ly hôn với ông Đỗ Văn N.

- Về mối quan hệ con chung: Có một (01) con chung là: Đỗ Huỳnh Mai L, sinh ngày: 24/6/2019. Sau ly hôn, bà Bùi Thị Huỳnh M yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

- Về mối quan hệ tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm: giải quyết theo quy định pháp luật.

Bà từ chối tiếp tục hòa giải, bà yêu cầu sớm đưa vụ án ra xét xử, đồng thời do bà bận đi làm và sinh sống ở Bến Tre đi lại khó khăn mất nhiều thời gian nên bà xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà kiên quyết ly hôn.

- Bị đơn ông Đỗ Văn N đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng ông không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông N, địa chỉ cư trú của ông N thuộc thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng bà M có đơn xin xét xử vắng mặt, ông N thì vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N, bà M theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Bà M và ông N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 03/5/2019 tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông N.

[2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông N để ông thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Các văn bản tố tụng đều được tống đạt hợp lệ nhưng cho đến nay ông N vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như ông N từ bỏ quyền lợi của bản thân.

[2.3] Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế giữa ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau và không còn chung sống cùng nhau từ đầu năm 2024. Trong suốt thời gian vừa qua, ông bà vẫn không tìm được phương pháp hòa giải mâu thuẫn do đó bà M gửi đơn yêu cầu ly hôn. Nay bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, từ chối hòa giải và xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, ông N thì trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn lại với nhau nhưng ông N vắng mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Tòa án, điều này chứng tỏ ông N không có thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà M. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của bà M với ông N là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về con chung: Bà M và ông N có 01 (một) con chung tên Đỗ Huỳnh Mai L, sinh ngày: 24/6/2019. Con chung đang do bà M nuôi dưỡng, khi ly hôn bà M yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông N không có ý kiến về người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu L đang do bà M nuôi dưỡng do đó, để đảm bảo ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập cho con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu L cho bà M được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: không giải quyết do bà M không yêu cầu.

[2.5] Bà M và các thành viên gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

[2.6] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn. Ông N không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Huỳnh M.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị Huỳnh M ly hôn với ông Đỗ Văn N. Giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 03/5/2019 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà M và ông N không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Về quan hệ con chung: Bà M và ông N có 01 (một) con chung tên Đỗ Huỳnh Mai L, sinh ngày: 24/6/2019. Giao con chung tên Đỗ Huỳnh Mai L, sinh ngày: 24/6/2019 cho bà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu giải quyết.
  • Bà M và các thành viên gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
  • - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Bùi Thị Huỳnh M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002250 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Đỗ Văn N không phải chịu án phí sơ thẩm.

Ông Đỗ Văn N và bà Bùi Thị Huỳnh M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp;
  • - Ủy ban nhân dân xã/phường;
  • - Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 141/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger