Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 141/2024/HSST

Ngày: 19 - 07 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Trần Ngọc Oanh;
  • 2/ Bà Lê Thị Sao.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Trần Hà Ngọc Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số:98/2023/HSST ngày 04 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2023/QĐXXST-HS ngày 24/06/2024 đối với bị cáo:

Phạm Minh Đ;

sinh năm 2000, tại: Bình Phước; Hộ khẩu thường trú: đội C, ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; chỗ ở hiện nay: như trên; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hùng A, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979; vợ: Trần Thị Thanh B, sinh năm 2002; con: có 01 người sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ngân hàng TMCP Á (A1) – Phòng G; địa chỉ trụ sở: D L, Phường S, Quận T, TP ..

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Minh L1; chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Phạm Thị Minh H; chức vụ: nhân viên hành chánh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Phan Thị Huỳnh N, sinh năm 2002; trú tại: A đường số A, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
  2. Chị Lê Thị N1, sinh năm 1982; trú tại: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  3. Chị Trần Thị Thanh B, sinh năm 2002; trú tại: 4 Hồ Đ, phường T, quận T, TP. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 09/9/2023, sau khi đi ăn uống xong, Phạm Minh Đ cùng bạn gái là chị Trần Thị Thanh B và anh Châu Hoàng L2 đi xe ô tô G1 về nhà trọ tại số D Hồ Đ, phường T, quận T và số tiền phải trả là 120.000 đồng. Chị B đưa thẻ ATM cho Đ để thanh toán nhưng hệ thống thanh toán của tài xế bị lỗi nên không thanh toán được. Đ đi vào phòng trọ để mượn tiền trả cho tài xế nhưng không có nên Đ mượn xe gắn máy hiệu Yamaha Grande biển số: 78E1-419.71 của chị Phan Thị Huỳnh N, rồi cầm thẻ ATM của chị B, chở L2 để đi rút tiền.

Khi đến cây ATM Ngân hàng A2 L, phường S, quận T. Lúc này, anh L2 đứng ngoài trông xe còn Đ vào trong phòng máy ATM. Sau nhiều lần thực hiện lệnh rút tiền, máy ATM liên tục báo lỗi, Đ không rút được tiền nên Đ bực tức dùng tay phải đấm mạnh một cái vào màn hình máy ATM làm vỡ kính màn hình, đồng thời bị mảnh kính vỡ cắt gây thương tích ở cổ tay. Sau đó, Đ đi ra cùng với anh L2 để đi về.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, chị Phạm Thị Minh H là nhân viên Ngân hàng A1 đến Ngân hàng thì thấy máy ATM vỡ kính màn hình nên chị H đến Công an phường S trình báo sự việc nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Minh Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 2399/KL-HĐĐGTS ngày 20/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận T, thời điểm định giá ngày 09/9/2023, kết luận: 01 bộ cảm ứng máy ATM Procash 280 KIMAT của hãng D trị giá 33.233.200 đồng. (BL 33).

Vật chứng:

  • + 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Grande màu xám, biển số: 78E1-419.71, SK: RLCSEE520KY006162, SM: E31KE006211, là xe gắn máy Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
  • + 01 gói giấy đựng mảnh vỡ màn hình máy ATM có chữ ký của Phạm Thị Minh H, là các mảnh vỡ của máy ATM do Đ đập vỡ;
  • + 01 áo thun ngắn tay màu đen, trên ngực áo có chữ “GALSTATE”; 01 quần short vải màu trắng; 01 đôi dép quai ngang màu đen, là trang phục Điền mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
  • + 01 thẻ ATM số 5174160001104356 được mở tại Ngân hàng S tên TRAN THI THANH BINH, là thẻ ATM Điền sử dụng để rút tiền.
  • + 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh vụ việc (kèm hồ sơ vụ án);

Về phần dân sự:

Phạm Minh Đ đã bồi thường số tiền 33.233.200 đồng cho Ngân hàng A2 và Ngân hàng cũng có đơn bãi nại đối với Đ. (BL 35)

Tại bản cáo trạng số: 113/CT-VKSQ.TP ngày 03 tháng 05 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Phạm Minh Đ về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa:

Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1 Điều 178; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

Bị cáo Phạm Minh Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 02 giờ ngày 09/9/2023, Phạm Minh Đ đã có hành vi dùng tay phải đấm mạnh vào màn hình bộ cảm ứng máy ATM Procash 280 KIMAT hãng Diebold Nixdorf của Ngân hàng A2, giá trị tài sản bị thiệt hại là 33.233.200 đồng, tại số D L, phường S, quận T, TP ..

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Phạm Minh Đ về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, Phạm Minh Đ đã bồi thường số tiền 33.233.200 đồng cho Ngân hàng A2 và Ngân hàng không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Grande màu xám, biển số: 78E1-419.71, SK: RLCSEE520KY006162, SM: E31KE006211, là xe gắn máy Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội . Qua làm việc Đ khai nhận mượn xe gắn máy trên của bạn Đ là chị Phan Thị Huỳnh N để đi rút tiền.
  • Qua xác minh xe gắn máy trên do chị Lê Thị N1, thường trú: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, đứng tên sở hữu. Qua làm việc với chị N1 được biết: Năm 2019, chị N1 mua xe gắn máy hiệu Yamaha Grande màu xám, biển số: 78E1-419.71 và đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2021, con của chị N1 là chị Phan Thị Huỳnh N đi học đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh nên chị N1 giao xe gắn máy cho chị N sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên cho chị N1 thông qua người được ủy quyền là chị Phan Thị Huỳnh N là phù hợp.
  • + Đối với 01 gói giấy đựng mảnh vỡ màn hình máy ATM có chữ ký của Phạm Thị Minh H, là các mảnh vỡ của máy ATM do Đ đập vỡ. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đen, trên ngực áo có chữ “GALSTATE”; 01 quần short vải màu trắng; 01 đôi dép quai ngang màu đen, là trang phục Điền mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 thẻ ATM số 5174160001104356 được mở tại Ngân hàng S tên TRAN THỊ THANH BINH, là thẻ ATM Điền sử dụng để rút tiền. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh vụ việc (kèm hồ sơ vụ án);

[8] Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội: "Cố ý làm hư hỏng tài sản".
  2. Áp dụng: khoản 1 Điều 178; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  3. Xử phạt: bị cáo Phạm Minh Đ 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

    Thời gian thử thách 02 (Hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/07/2024).

    Giao bị cáo Phạm Minh Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo”.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy đựng mảnh vỡ màn hình máy ATM có chữ ký của Phạm Thị Minh H, là các mảnh vỡ của máy ATM do Đ đập vỡ; 01 áo thun ngắn tay màu đen, trên ngực áo có chữ “GALSTATE"; 01 quần short vải màu trắng; 01 đôi dép quai ngang màu đen, là trang phục Điền mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 thẻ ATM số 5174160001104356 được mở tại Ngân hàng S tên TRAN THỊ THANH BINH, là thẻ ATM Điền sử dụng để rút tiền.
    • - Lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa VCD ghi lại hình ảnh vụ việc.
    • Các vật chứng trên đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 97/PNK ngày 19/4/2023 của Công an quận T.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
    • - Buộc bị cáo Phạm Minh Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Minh Đ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - Công an TP . Hồ Chí Minh;
  • - UBND phường Sơn Kỳ.
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HSST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 141/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger