|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 141/2024/HS-ST Ngày 15/7/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Hà.
2. Bà Nguyễn Thị Biên.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/HSST ngày 02/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thanh L, sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số nhà A, ngách A, ngõ C, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 7/12; Bố: Đỗ Thanh L1, sinh năm 1958 (đã chết); Mẹ: Trần Thị Bích H, sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Lù Thị B, sinh năm 1994 (đã ly hôn); Có 2 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: Không.
- Tiền sự: Ngày 28/4/2021 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; chấp hành xong ngày 16/4/2023.
- Nhân thân:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 88 ngày 22/4/2005 của Toà án nhân dân thị xã Bắc Giang (nay là thành phố B) xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 04 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi; đã được xoá án tích.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 201 ngày 07/11/2005 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 22 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp 08 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 88 ngày 22/4/2005 của Toà án nhân dân thị xã Bắc Giang buộc L phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 02 năm 06 tháng tù. Đã chấp hành xong án phạt tù và án phí, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi; đã được xoá án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Bị cáo Đỗ Thanh L có mặt tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh B.
* Bị hại: Nguyễn Thị N, sinh năm 1983, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, ngõ C, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đào Trọng H1, sinh năm 1981, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 07/3/2024, Đỗ Thanh L, sinh năm 1988, trú tại số nhà A, ngách A, ngõ C, đường C, phường L, thành phố B đi bộ trên đường về nhà thì nhìn thấy tại sân bóng chuyền hơi ở ngõ C, đường C, phường L, thành phố B có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98M8 – 1694 gắn với một chiếc xe lôi phía sau. Chiếc xe mô tô này là của chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1983, trú tại số nhà A, ngõ C, đường C, phường L, thành phố B để ở đó; xe vẫn cắm chìa khoá ở ổ khóa; trên yên xe có một giá chở hàng có ốc gắn cố định với một xe lôi đằng sau; chị N để trong cốp xe máy 01 chiếc túi xách màu đỏ bên trong có số tiền 1.100.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng). Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô nên đi đến dùng tay tháo ốc cố định ở giá chở hàng lắp trên yên xe và tháo được chiếc xe lôi ra. Sau khi tháo xong, L ngồi lên xe, đề nổ máy rồi đi khỏi hiện trường tìm địa điểm tiêu thụ. Chị N sau khi phát hiện bị trộm cắp chiếc xe mô tô đã có đơn trình báo Công an phường L.
Đối với Đỗ Thanh L sau khi trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M8 – 1694 của chị N thì L điều khiển xe đi về hướng khu công nghiệp V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang mục đích để bán. Theo L khai trên đường đi rẽ vào một cửa hiệu sửa chữa xe máy (không nhớ địa chỉ và tên cửa hiệu) nhờ người đàn ông là chủ cửa hiệu tháo giá chở hàng rồi trả công 20.000 đồng. Sau đó, L mở yên xe máy ra thì thấy trong cốp xe có 01 chiếc túi xách màu đỏ. L mở chiếc túi xách ra kiểm tra thấy bên trong có tiền nên đã lấy hết tiền rồi để chiếc túi xách vào trong cốp xe. L điều khiển xe đi đến một cửa hàng thu mua sắt vụn ở ven đường và bán chiếc giá chở hàng cho người phụ nữ không quen biết được 100.000 đồng rồi tiếp tục đi đến khu công nghiệp V. Trên đường đi, L vứt túi xách ở ven đường và kiểm tra lại số tiền lấy trong túi xách thì thấy trộm cắp được 1.100.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 500.000 đồng và 03 tờ mệnh giá 200.000 đồng). Do không tìm được địa điểm để bán xe nên L đi xe đến gửi tại nhà để xe bến xe khách Bắc Giang.
Khoảng 08 giờ ngày hôm sau, Đỗ Thanh L đi bộ đến quán nước trước cổng trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã thỏa thuận bán cho anh Đào Trọng H1, sinh năm 1981, trú tại thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi nói chuyện, anh H1 đi xe máy chở L đến nhà gửi xe ở bến xe B xem xe và trả giá 1.000.000 đồng thì L đồng ý bán. Hai người thoả thuận giao xe tại khu vực cầu B. Khoảng 14 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M8 – 1694 đi đến cầu B gặp anh H1 để bán xe. Anh H1 đi thử thì thấy xe kém chất lượng nên trả giá 900.000 đồng thì L đồng ý bán. Anh H1 đem xe đến cửa hiệu sửa chữa xe máy của anh Ngô Văn T, sinh năm 1996 ở số nhà A, đường H, phường Đ, thành phố B để bảo dưỡng. Sau đó, anh H1 trả cho L 900.000 đồng. Buổi chiều cùng ngày, anh H1 mang xe về nhà và sử dụng. Ngày 19/3/2024 sau khi được thông báo chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M8 – 1694 mua của L là vật chứng vụ án trộm cắp thì anh H1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Ngày 12/3/2024, Đỗ Thanh L đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. L giao nộp 01 mũ lưỡi trai màu trắng đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh; 01 áo phao màu xanh rêu; 01 đôi dép màu trắng (là trang phục mà L mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy của chị N); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel lắp sim số 0344.921.xxx.
Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐ ngày 20/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98M4 – 1694 đăng ký lần đầu ngày 22/01/2007 đã qua sử dụng, trị giá 5.500.000 đồng.
- 01 giá chở hàng trên xe mô tô bằng sắt có trọng lượng 12kg, chiều dài 50 cm, chiều rộng 45 cm, mua năm 2019, đã qua sử dụng, trị giá 250.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐ ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 chiếc túi xách vải có nắp đậy màu đỏ, có quai đeo, có trị giá tại thời điểm ngày 07/3/2024 là 130.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 file video trích xuất tại camera an ninh của gia đình chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1976, trú tại số nhà A, ngõ A đường Đ, phường L; Nguyễn Thị H2, sinh năm 1968, trú tại số nhà I, ngõ C, đường C, phường L; anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978, trú tại số nhà B, ngõ C, đường C, phường L, thành phố B ghi lại hình ảnh Đỗ Thanh L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M4 – 1694 đi trên đường; thu giữ 14 hình ảnh được trích xuất từ camera an ninh tại Bến xe khách B có hình ảnh L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M4 – 1694 đến gửi xe.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video đã thu giữ. Kết luận giám định số 963/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các File video lưu trữ trong 03 đĩa DVD – R gửi giám định.
Cơ quan điều tra đã cho Đỗ Thanh L quan sát các file video nêu trên. Kết quả L xác định có hình ảnh L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M4 – 1694 đi trên đường và đi đến gửi tại B Bắc Giang.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Masstel lắp sim số 0344.921.xxx thu giữ của Đỗ Thanh L thấy có 09 cuộc gọi với số điện thoại 0865.302.xxx của anh Đào Trọng H1 vào ngày 08/3/2024. L khai liên lạc để bán chiếc xe mô tô đã trộm cắp.
Ngày 21/3/2024, Cơ quan điều tra đã cho Đỗ Thanh L thực nghiệm hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M4 – 1694 tại sân bóng chuyền hơi ở ngõ C, đường C, phường L, thành phố B. Kết quả L thực hiện thuần thục động tác dùng tay tháo chiếc xe lôi sau đó ngồi lên xe mô tô, mở khoá điện và nổ máy đi khỏi hiện trường.
Cơ quan điều tra đã cho Đỗ Thanh L và anh Đào Trọng Hà nhận dạng ảnh của nhau. Kết quả bị cáo L và anh H1 đều nhận đúng ảnh và xác định L đã bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M4 – 1694 cho anh H1 vào ngày 08/3/2024.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo L khai đã bán chiếc giá chở hàng và vứt chiếc túi xách nhưng đều không nhớ địa chỉ nên không thu giữ được.
Cơ quan điều tra đã trả lại chị Nguyễn Thị N chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98M4 – 1694. Chị N yêu cầu L bồi thường số tiền bị trộm cắp là 1.100.000 đồng và trị giá chiếc giá chở hàng và chiếc túi xách do không thu hồi được. Bị cáo L chưa bồi thường cho người bị hại. Anh Đào Trọng H1 không yêu cầu L bồi thường.
Đối với anh Đào Trọng Hà có mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M8 – 1694 do L bán; anh Vũ Văn Q là bảo vệ bến xe B cho L gửi xe mô tô nhưng những người này đều không biết là tài sản do L trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Trong quá trình điều tra, L khai đã sử dụng 1.500.000 đồng từ số tiền trộm cắp và bán xe để mua ma túy Hêroine của một người không quen biết tại bờ đê C, phường T, thành phố B và đã sử dụng hết. Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Kết quả điều tra không xác định được người bán ma tuý như L khai.
Tại Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Đỗ Thanh L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thanh L khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo khai là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một mình không có đồng phạm nào khác. Về nội dung yêu cầu bồi thường của chị N bị cáo đồng ý bồi thường cho chị N nhưng hiện nay bị cáo đang bị tạm giam nên không có điều kiện để bồi thường, khi nào bị cáo chấp hành xong án thì bị cáo sẽ bồi thường cho chị N. Trong quá trình điều tra, bị cáo bị thu giữ 01 mũ lưỡi trai màu trắng đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh, cổ áo có dòng chữ “COLLECTION”; 01 áo phao màu xanh rêu, có mũ liền với áo; 01 đôi dép màu trắng, đế dép “GIDA 42” và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thanh L từ 01 (Một) năm đến 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12/3/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Đỗ Thanh L phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị N số tiền 1.480.000 đồng.
-
Vật chứng của vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ lưỡi trai màu trắng đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh, cổ áo có dòng chữ “COLLECTION”; 01 áo phao màu xanh rêu, có mũ liền với áo; 01 đôi dép màu trắng, đế dép “GIDA 42”.
- - Trả lại cho bị cáo L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số Imei: 352377077733448 lắp sim số điện thoại 0344.921.xxx nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo: Không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ ngày 07/3/2024, Đỗ Thanh L trộm cắp của chị Nguyễn Thị N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98M8 – 1694 để tại sân bóng chuyền hơi ở ngõ C, đường C, phường L, thành phố B (trên xe có một giá chở hàng bằng sắt; trong cốp xe có để chiếc túi xách bên trong có số tiền 1.100.000 đồng). L đã lấy hết số tiền trong xe, bán chiếc giá chở hàng cho người không quen biết được 100.000 đồng; bán xe mô tô cho anh Đào Trọng H1 được 900.000 đồng. Tổng giá trị tài sản L trộm cắp của chị N trị giá 6.980.000 đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng vẫn thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Bản cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Đỗ Thanh L là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã từng bị xử lý bằng pháp luật hình sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để trở thành công dân tốt có ích cho xã hội mà bị cáo còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội chứng tỏ rằng bị cáo là con người khó giáo dục, có ý thức coi thường pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Chị N yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền trộm cắp là 1.100.000 đồng; trị giá chiếc giá chở hàng và giá trị chiếc túi xách của chị bị trộm cắp. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của chị N là phù hợp với quy định của pháp luật. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị N số tiền 1.480.000 đồng.
[10] Về Vật chứng:
- Đối với: 01 mũ lưỡi trai màu trắng đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh, cổ áo có dòng chữ “COLLECTION”; 01 áo phao màu xanh rêu, có mũ liền với áo; 01 đôi dép màu trắng, đế dép “GIDA 42” là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số Imei: 352377077733448 lắp sim số điện thoại 0344.921.xxx là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
-
Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh L 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/3/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
-
Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ lưỡi trai màu trắng đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh, cổ áo có dòng chữ “COLLECTION”; 01 áo phao màu xanh rêu, có mũ liền với áo; 01 đôi dép màu trắng, đế dép “GIDA 42”.
- - Trả lại cho bị cáo L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số Imei: 352377077733448 lắp sim số điện thoại 0344.921.xxx nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Đỗ Thanh L phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị N số tiền 1.480.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Bị cáo Đỗ Thanh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
- - Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Đình Hưng |
Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 141/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thanh L phạm tội Trộm cắp tài sản
