TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn,
tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Văn Cẩu
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
-Thư ký phiên toà:
Bà Hoàng Thị Bích Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:
Bà Cao Thị Thu Hồng Em- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 6 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 239/2024/QÐST-HNGĐ ngày 23/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Ngọc P, sinh năm:1983(Có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1983(Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 14, ấp An Phú, xã An Hoà, huyện Châu Thành, An Giang
Nơi cư trú: Tổ 8, ấp V, xã C, huyện C, An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 21/6/2024, nguyên đơn anh Trần Ngọc P trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị Trần Thị T qua tìm hiểu tiến tới hôn nhân và chung sống như vợ chồng kể từ năm 2003, nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống thường xãy ra mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Chị T có quen người đàn ông khác, anh phát hiện hai bên cự cải và chị T bỏ về cha mẹ từ năm 2011 cho đến nay. Vợ chồng ly thân từ năm 2011. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên tôi yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị T.
-Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Thị Cát T1, sinh năm: 2004; Trần Ngọc V, sinh năm: 2008. Hiện cháu T1 đã trưởng thành, còn cháu V đang sống với anh P. Sau ly hôn anh P anh yêu cầu nuôi cháu V, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Trần Thị T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Trần Thị T vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của anh P .Tòa án cũng tiến hành xác minh lại sự vắng mặt của chị T tại địa phương. Qua xác minh tại địa phương thì chị T hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn ở tổ H, ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang nhưng chị T vắng mặt tại nhà nên không lấy lời khai được.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Trần Ngọc P, Tuyên bố không quan hệ vợ chồng giữa anh P và chị T. Về con chung: Đề nghị giao cháu V cho anh P nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị T vẫn vắng mặt không lý do. Còn anh Trần Ngọc P có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Ngọc P và chị Trần Thị T quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]Về quan hệ hôn nhân: anh Trần Ngọc P và chị Trần Thị T chung sống với nhau vào năm 2003, tự nguyện sống chung nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo công văn số 57/UBND-HT ngày 21/6/2024 của UBND xã C và công văn số 28/UBND-HT ngày 21/6/2024 của UBND xã A xác nhận sau khi trích lục hồ sơ đăng ký kết hôn thể hiện không có tên trong hồ sơ đăng ký kết hôn của anh P và chị T. Từ xác nhận trên cho thấy hôn nhân giữa anh P và chị T đã không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó hôn nhân của anh P và chị T đã vi phạm tại điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Căn cứ vào điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì hôn nhân của anh P và chị T không được công nhận là hôn
nhân thực tế, do đó nghĩ nên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Ngọc P và chị Trần Thị T là phù hợp.
[3.2]Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Thị Cát T1, sinh năm: 2004; Trần Ngọc V, sinh năm: 2008. Hiện cháu T1 đã trưởng thành, còn cháu V đang sống với anh P. Sau ly hôn anh P anh yêu cầu nuôi cháu V, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu V từ nhỏ sống với anh P, được anh P chăm sóc ổn định. Tại bản tự khai của cháu V ngày 5/8/2024 thì cháu V có nguyện vọng sống với cha khi cha mẹ ly hôn. Do đó để thực hiện theo nguyện vọng của cháu V và cũng tạo điều kiện cho anh P chăm sóc cháu, nghĩ nên để anh P được nuôi cháu V là phù hợp, chị T không cấp dưỡng nuôi con. Anh P phải tạo điều kiện thuận lợi cho chị T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi chị thực hiện quyền này.
[.33] Về tài sản và nợ chung: Anh Trần Ngọc P trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.4] Về án phí: Do yêu cầu của anh Trần Ngọc P được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Ngọc P. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Ngọc P và chị Trần Thị T.
- Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Thị Cát T1, sinh năm: 2004; Trần Ngọc V, sinh năm: 2008. Hiện cháu T1 đã trưởng thành, còn cháu V đang sống với anh P. Sau ly hôn anh P được nuôi dưỡng cháu V, chị T không cấp dưỡng nuôi con. Anh P phải tạo điều kiện thuận lợi cho chị T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi chị thực hiện quyền này.
- Về tài sản và nợ chung: Anh Trần Ngọc P trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Trần Ngọc P phải chịu 300.000₫ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004788 ngày 18/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Về kháng cáo:Anh Trần Ngọc P và chị Trần Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |
Bản án số 141/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 141/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Ngọc P. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Ngọc P và chị Trần Thị T.
