|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 141/2024/HSST Ngày: 09-7-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Bính .
2/ Bà Lê Thị Kiều Thu.
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Ông Giang Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2021/TLST- HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/HSST-QĐ ngày 26/6/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T - Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1987; Tại: Bình Thuận.
- Nơi thường trú: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 02/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Nguyễn Đ, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954. Chồng: Huỳnh Thái S, sinh năm 1984. Trú tại: Thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Con: Có 04 người con, nhỏ nhất sinh năm 2022, lớn nhất sinh năm 2008. Trú tại khu phố B, phường P, thành phố P và Trung tâm B1, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Tiền án: Tại bản án số 87/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/12/2023, chưa xóa án tích.
- Tiền sự: tại quyết định xử phạt vi phạm Hành chính số 12/QĐ-XPVPHC ngày 04/02/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, T chưa đóng phạt.
- Nhân thân: Không.
- Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại:
Bà Nguyễn Thị Thanh S1, sinh năm 1979, Địa chỉ thường trú: Khu phố G, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Huy K, sinh năm 1992, Địa chỉ thường trú: Tổ A, Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 35 phút ngày 12/12/2023, với mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp, Nguyễn Thị T đi vào Bệnh viện đa khoa tỉnh B (Thuộc khu phố A, phường P, thành phố P); Tại khu vực Khoa Nội I, T phát hiện trên kệ gỗ ở hành lang khoa có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A78 màu xanh đang cắm sạc pin, nhưng không có người trông coi. T đã lén lút lấy chiếc điện thoại trên rồi thuê xe thồ chở đến cửa hàng điện thoại di động M, tại địa chỉ số A đường Đ, khu phố D, phường X, thành phố P bán cho anh Nguyễn Huy K với số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu xài hết.
Chiếc điện thoại hiệu Oppo A78 là tài sản của chị Nguyễn Thị Thanh S1, chỉ bị mất trong thời gian đang chăm sóc con bị bệnh tại bệnh viện. Ngay sau khi bị mất điện thoại chị S1 đã đến Công an phường P trình báo sự việc. Qua truy xét, ngày 13/12/2023, Công an phường P đã mời T về trụ sở làm việc, T đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL – HĐĐGTS ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A78, màu xanh, số Imei 1: 869008064705513, số Imei2: 869008064705505, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường có giá trị tại thời điểm định giá 12/12/2023 là 3.700.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A78, cho chị Nguyễn Thị Thanh S1, chị S1 không yêu cầu Nguyễn Thị T bồi thường về dân sự.
Anh Nguyễn Huy K không yêu cầu T hoàn trả số tiền 2.000.000 đồng đã mua điện thoại.
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 24 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xác định nội dung cáo trạng truy tố không oan sai, đã nêu đúng và đầy đủ hành vi chiếm đoạt tài sản bị cáo đã thực hiện trong vụ án.
Lời khai của người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thanh S1 trình bày về việc bị chiếm đoạt tài sản phù hợp với lời khai của bị cáo về địa điểm, thời gian, diễn biến hành vi chiếm đoạt bị cáo đã thực hiện; Đồng thời người bị hại xác định đã được cơ quan điều tra giao trả lại tài sản bị chiếm đoạt, hiện không có yêu cầu gì thêm về bồi thường Dân sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Về tội danh và hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 01 điều 173, điểm s khoản 01 điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội" Trộm cắp tài sản".
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo hoàn cảnh khó khăn con còn nhỏ không có ai chăm sóc, mong Hội đồng xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[2]Về đánh giá chứng cứ, căn cứ buộc tội bị cáo:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 12/12/2023, tại Khoa Nội I, Bệnh viện đa khoa tỉnh B thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, Nguyễn Thị T đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A78 màu xanh trị giá 3.700.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thanh S1, mang bán cho anh Nguyễn Huy K với giá 02 triệu đồng để tiêu xài cá nhân.
Do vậy hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Phan Thiết truy tố đối với bị cáo với tội danh và khung hình phạt như đã viện dẫn tại cáo trạng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Huy K mua điện thoại do T trộm cắp, nhưng do điện thoại không cài mật khẩu màn hình, T lại nói dối với anh K là điện thoại của T, do vậy không đủ cơ sở để xác định anh K biết rõ đó là tài sản do Nguyễn Thị T trộm cắp, do vậy không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm Hình sự đối với anh Nguyễn Huy K về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
[3] Đánh giá nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét bị cáo về nhân thân đã từng bị xử phạt hành chính, và bị xử phạt tù có thời hạn về hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên vừa chấp hành xong hình phạt được 03 ngày lại tiếp tục tái phạm cũng về tội trộm cắp tài sản. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản người khác trong khu vực bệnh viện do bị cáo thực hiện trong vụ án, là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an địa phương.
Với nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để răn đe giáo dục riêng và phòng chống tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích tại bản án số 87/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết về tội “Trộm cắp tài sản”, nên thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự “ tái phạm” quy định tại điểm h khoản 01 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:
Bị hại Nguyễn Thị Thanh S1 đã được cơ quan điều tra thu hồi giao trả lại điện thoại, hiện không yêu cầu bồi thường về Dân sự, do vậy Tòa không xét.
Ông Nguyễn Huy K không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị T trả lại 02 triệu đồng tiền cầm cố điện thoại, do vậy Tòa không xét buộc bị cáo phải trả cho ông K.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
*Căn cứ vào quy định tại khoản 01 điều 173, điểm h khoản 01 điều 52, điểm s khoản 01 điều 51 Bộ luật hình sự.
*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hoặc tống đạt bản án.
|
* Nơi nhận:
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM T - Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN THỊ NHƯ X |
Bản án số 141/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 141/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T phạm tội theo quy định khoản 01 điều 173
