|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2024/HS-ST
Ngày 09-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Lương Thị Kim Dung - Là giáo viên.
Ông Phạm Mạnh Hùng
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thủy Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 222/TB-TA ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Phạm Trung H, sinh ngày 28/01/2007 (khi phạm tội là 16 tuổi, 6 tháng, 1 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: F H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tiến T và bà Ngô Phương T1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, bản án chưa có hiệu lực pháp luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 31/01/2024 bị bắt tạm giam trong vụ án gây rối trật tự công cộng; có mặt.
-
Nguyễn Đức H1, sinh ngày 13/6/2007 (khi phạm tội là 16 tuổi, 1 tháng, 16 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số B đường Đ, Tổ A, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến T2 và bà Phạm Thị H2; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bản án chưa có hiệu lực pháp luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 31/01/2024 bị bắt tạm giam trong vụ án gây rối trật tự công cộng; có mặt.
-
Nguyễn Quyền L, sinh ngày 03/8/2006 (khi phạm tội là 16 tuổi, 11 tháng, 26 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số B H, tổ dân phố H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Vũ Thị Y; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
-
Lê Hải A, sinh ngày 25/3/2007 (khi phạm tội là 16 tuổi, 4 tháng, 4 ngày) tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số A đường N, tổ D, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Ngõ H phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H3 và bà Trần Thị Nguyệt H4; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Trung H và Nguyễn Quyền L: Bà Trương Thị H5, là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức H1 và Lê Hải A: Ông Trần Minh N, là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Trung H:
- + Anh Phạm Tiến T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số F H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; là bố đẻ của bị cáo; có mặt.
- + Chị Ngô Phương T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; là mẹ đẻ của bị cáo; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức H1: Anh Nguyễn Tiến H6, sinh năm 1982 và chị Phạm Thị H2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số B Đ, tổ dân phố số A, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng, là bố mẹ đẻ của bị cáo; có mặt.
- Người đại điện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quyền L: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1980 và chị Vũ Thị Y, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số B H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; là bố mẹ đẻ của bị cáo; anh Q vắng mặt, chị Y có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Hải A: Ông Lê Văn H3, sinh năm 1979 và bà Trần Thị Nguyệt H4, sinh năm 1969; nơi cư trú: Ngõ H phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; là bố mẹ đẻ của bị cáo; ông H3 vắng mặt, bà H4 có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Công T3, sinh ngày 09/8/2008; nơi cư trú: Số C B, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Đại diện trường THPT P (nơi bị cáo Phạm Trung H7 đang học tập); địa chỉ: Số B L, phường Đ, quận H, Hải Phòng; vắng mặt.
- Đại diện trường T4 (nơi bị cáo Nguyễn Quyền L đang học tập); địa chỉ: Số C N, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Đại diện trường Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận H, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo Nguyễn Đức H1 đang học tập); địa chỉ: T, Đ, H, Hải Phòng; vắng mặt.
- Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo Phạm Trung H và bị cáo Nguyễn Quyền L đang sinh hoạt); vắng mặt.
- Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường N; quận H, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo Nguyễn Đức H1 và bị cáo Lê Hải A đang sinh hoạt); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 20' ngày 29/7/2023, tổ công tác thuộc Phòng C Công an thành phố H (gọi tắt là tổ công tác HP22) thực hiện nhiệm vụ trên đường B, khi đến khu vực cây xăng P1 thuộc phường T, quận H, tổ công tác phát hiện một nhóm thanh niên đi xe mô tô mang theo vũ khí gồm kiếm (dạng kiếm N) và các vỏ chai thuỷ tinh chuẩn bị để đi đánh nhau. Thấy vậy tổ công tác HP22 đến truy đuổi, ngăn chặn, các đối tượng phóng xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển kiểm soát) bỏ chạy, để lại hiện trường 02 két đựng vỏ chai thuỷ tinh (gồm: 01 két đựng bia bằng nhựa màu vàng ghi chữ "Bia Hải Phòng" bên trong chứa 16 vỏ chai vỏ thuỷ tinh, nhãn hiệu P2, thể tích 450ml; 01 két đựng bia bằng nhựa màu đỏ ghi chữ "Habeco Bia Hà Nội" bên trong chứa 14 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu P2 thể tích 450ml, 02 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu Habeco H, thể tích 330ml) và 01 xe mô tô nhãn hiệu AirBlade màu sơn xanh mang biển kiểm soát 15R1-019.75. Tổ công tác đã lập Biên bản vụ việc, vẽ sơ đồ hiện trường, thu thập chứng cứ, thu giữ vật chứng có liên quan.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã triệu tập toàn bộ 12 đối tượng gồm: Phạm Trung H, Nguyễn Quyền L, Nguyễn Đức H1, Lê Hải A, Phùng Anh N1, Phạm Đức Al (sinh ngày 09/01/2008); Nguyễn Mạnh Đ(sinh ngày 10/01/2008); Hoàng Công T3 (sinh ngày 09/8/2008); Hoàng Thế Đ1 (sinh ngày 09/8/2008); Phùng Trí Đ2 (sinh ngày 11/3/2009); Phạm Tiến D (sinh ngày 21/9/2007); Nguyễn Gia H8 (sinh ngày 16/01/2009);
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 20 giờ ngày 29/7/2023, Phạm Trung H, Nguyễn Quyền L, Phùng Anh N1, Nguyễn Đức H1, Lê Hải A cùng 07 đối tượng rủ nhau đến uống nước trên đường L, khu vực vỉa hè trước cửa Xí nghiệp S (tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng), thì bị một nhóm nam thanh niên không quen biết (khoảng 20 người, hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) đi xe mô tô mang theo kiếm, giáo chọc đi qua khiêu khích và đuổi đánh nhóm của Phạm Trung H. Nhóm của H bỏ chạy về hướng sân bay C thì bị nhóm thanh niên trên tiếp tục truy đuổi đánh, nhưng nhóm của H bỏ chạy thoát, không ai bị thương tích gì. Sau khi bị đuổi đánh, Phạm Đức A1 liền chở Phùng A2 N1 về nhà N1 lấy 01 thanh kiếm (dạng kiếm N, kích thước: dài 1m, phần chuôi kiếm màu đen dài 30cm, bản rộng nhất của lưỡi kiếm rộng 3cm) rồi cả nhóm gồm 12 người nêu trên tập trung tại khu tái định cư Đ, phường N, quận H. Tại đây, Phạm Đức Al rủ cả nhóm đi tìm nhóm đối phương để đánh trả thù, tất cả đều đồng ý. Nguyễn Mạnh Đ cùng Phùng A2 N1 đi lấy 01 két bằng nhựa đựng vỏ chai thủy tinh ở khu vực tái định cư Đ, phường N. Nguyễn Đức H1 và Nguyễn Quyền L đi lấy 01 két bằng nhựa đựng vỏ chai thủy tinh ở trước cửa nhà số B đường L, phường Đ, quận H. Phùng Anh N1 đưa thanh kiếm N2 cho Phạm Trung H cầm với mục đích tìm được nhóm đối phương thì sử dụng để đâm, chém gây thương tích. Những người còn lại ngồi sau xe tự lấy vỏ chai thủy tinh có sẵn trong 02 két nêu trên để sử dụng ném vào nhóm đối phương gây thương tích.
Khi đi, Lê Hải A điều khiển xe mô tô chở Phạm Trung H ngồi sau cầm 01 thanh kiếm; Phạm Đức A1 chở Phùng Anh N1 cầm theo 1 két nhựa đựng vỏ chai thủy tinh; Nguyễn Mạnh Đ chở Hoàng Thế Đ1 cầm theo vỏ chai thủy tinh; Nguyễn Đức H1 chở Nguyễn Quyền L cầm theo 1 két nhựa đựng vỏ chai thủy tinh; Phùng Chí Đ3 chở Phạm Tiến D ngồi sau cầm 03 vỏ chai thủy tinh. Hoàng Công T3 chở Nguyễn Gia H8 ngồi sau cầm 02 vỏ chai thủy tinh. Cả nhóm cùng nhau đi bằng 06 xe mô tô ra đường L hướng về đường B, khi đến khu vực gần cây xăng P1 thuộc phường T, quận H dừng lại để tập trung và định tiếp tục đi truy tìm nhóm đối phương trên tuyến đường B, thì bị tổ công tác HP22 phát hiện ngăn chặn nên chưa đánh trả thù, gây thương tích cho nhóm 20 người đã đuổi đánh nhóm của H. Bị phát hiện, nhóm của Phạm Trung H bỏ chạy, vất lại hiện trường 02 két đựng vỏ chai thủy tinh và 01 xe máy nhãn hiệu Airblade màu xanh BKS: 15R1-019.75. Trên đường bỏ chạy các đối tượng đã vất những chai thủy tinh còn lại, nên không thu giữ được.
Ngày 31/7/2023 Phạm Trung H đến Cơ quan Công an giao nộp 01 thanh kiếm đã đem theo mục đích sử dụng để đánh gây thương tích cho nhóm thanh niên có mâu thuẫn vào tối ngày 29/7/2023.
Tại Cơ quan điều tra Phạm Trung H, Nguyễn Quyền L, Nguyễn Đức H1, Lê Hải A đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai của các bị cáo Phạm Trung H, bị cáo Nguyễn Quyền L, bị cáo Nguyễn Đức H1, bị cáo Lê Hải A, phù hợp với Biên bản sự việc; lời khai của 07 đối tượng cùng tham gia trong nhóm và nhân chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.
* Về vật chứng, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm:
- 01 kiếm bằng kim loại dài 1m phần chuôi kiếm dài 30cm, bản rộng nhất của lưỡi kiếm 3cm.
- 01 két đựng bia bằng nhựa màu vàng ghi chữ "Bia Hải Phòng" bên trong chứa 16 vỏ chai vỏ thuỷ tinh, nhãn hiệu P2, thể tích 450ml.
- 01 két đựng bia bằng nhựa màu đỏ ghi chữ "Habeco Bia Hà Nội" bên trong chứa 14 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu P2 thể tích 450ml và 02 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu Habeco H, thể tích 330ml.
- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng (do Hoàng Công T3 tự nguyện giao nộp, qua giám định không phát hiện thấy thông tin liên quan đến vụ án).
Chuyển vật chứng, đồ vật thu giữ, tạm giữ trên đến Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Tại Cáo trạng số 93/CT-VKS-P2 ngày 08/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Phạm Trung H, Nguyễn Quyền L, Nguyễn Đức H1, Lê Hải A về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trình bày lời luận tội:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng giữ nguyên truy tố đối với các bị cáo Phạm Trung H, Nguyễn Đức H1, Lê Hải A, Nguyễn Quyền L về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt:
- Bị cáo Phạm Trung H: từ 07 đến 09 tháng tù.
- Bị cáo Nguyễn Đức H1: từ 05 đến 07 tháng tù.
- Bị cáo Nguyễn Quyền L: từ 09 – 12 tháng cải tạo không giam giữ.
- Bị cáo Lê Hải A: từ 09- 12 tháng cải tạo không giam giữ.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 kiếm bằng kim loại dài 1m phần chuôi kiếm dài 30cm, bản rộng nhất của lưỡi kiếm 3cm; 01 két đựng bia bằng nhựa màu vàng ghi chữ "Bia Hải Phòng" bên trong chứa 16 vỏ chai vỏ thuỷ tinh, nhãn hiệu P2, thể tích 450ml; 01 két đựng bia bằng nhựa màu đỏ ghi chữ "Habeco Bia Hà Nội" bên trong chứa 14 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu P2 thể tích 450ml và 02 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu Habeco H, thể tích 330ml.
Trả lại cho anh Hoàng Công T3 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng.
Ngoài ra các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, tuy nhiên các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên người đại diện hợp pháp của các bị cáo có trách nhiệm nộp thay. Bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Trung H và Nguyễn Quyền L trình bày quan điểm:
Đồng ý với quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phạm Trung H và bị cáo Nguyễn Quyền L. Xét thấy, các bị cáo khi phạm tội đều bị rủ rê lôi kéo, thanh kiếm là do N1 lấy đưa cho H, không phải do bị cáo H chuẩn bị. Các bị cáo chưa gây thương tích cho nhóm đối tượng khác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội của các bị cáo, các bị cáo ban đầu ngồi uống nước, mục đích không phải đánh nhau, độ tuổi của các bị cáo còn nông nổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo H có ông nội là thương binh, mức hình phạt đề nghị áp dụng với bị cáo H là nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H, giảm mức hình phạt đối với bị cáo H và áp dụng mức khởi điểm mà Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo L.
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Đức H1 và Lê Hải A trình bày quan điểm:
Đồng ý với quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức H1 và bị cáo Lê Hải A. Hành vi của các bị cáo là chuẩn bị phạm tội, chưa có hành vi xâm phạm, chưa gây thiệt hại. Đề nghị áp dụng Điều 14 của Bộ luật Hình sự về chuẩn bị phạm tội đối với các bị cáo. Các bị cáo đều bị rủ rê, lôi kéo, không phải khởi xướng, mục đích ban đầu là đi uống nước; các bị cáo đều là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo H1 có ông bà nội có công với cách mạng, bị cáo Hải A có ông nội là bệnh binh. Đề nghị Hội đồng xét xử, giảm mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo H1 và áp dụng mức hình phạt thấp mà Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Lê Hải A.
Các bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ cùng các các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 29/7/2023, do nhóm của Phạm Trung H bị một nhóm khoảng 20 người không quen biết đi xe máy, sử dụng hung khí đuổi đánh, nên Phạm Trung H đã bàn bạc thống nhất cùng các bị cáo Nguyễn Quyền L, Nguyễn Đức H1, Lê Hải A, Phùng Anh N tập hợp thành một nhóm 12 người, chuẩn bị hung khí nguy hiểm gồm: 01 thanh kiếm dạng kiếm N, 32 vỏ chai thủy tinh và sử dụng xe mô tô di chuyển tìm đánh, gây thương tích cho nhóm có mâu thuẫn. Mặc dù các bị cáo chưa thực hiện hành vi gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng đã có sự bàn bạc thống nhất và đã hoàn thành việc chuẩn bị các loại hung khí nguy hiểm nhằm mục đích tấn công gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nên Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
-
Do việc các bị cáo chuẩn bị kiếm, vỏ chai thủy tinh để phạm tội đã là tình tiết định khung quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên không có căn cứ chấp nhận quan điểm của người bào chữa cho bị cáo H1 và bị cáo Hải A đề nghị áp dụng Điều 14 của Bộ luật Hình sự về chuẩn bị phạm tội đối với các bị cáo.
-
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đã chuẩn bị hung khí với mục đích xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ cho người khác. Hành vi của các bị cáo đồng thời gây mất trật tự công cộng, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xét xử nghiêm đối với các bị cáo.
-
Về vai trò: Vụ án có đồng phạm giản đơn: Các bị cáo đều được Phạm Đức A1 rủ đi tìm nhóm đối tượng đã đuổi đánh các bị cáo trước đó để trả thù. Khi đi bị cáo Lê Hải A chở Phạm Trung H ngồi sau cầm 01 thanh kiếm, tuy nhiên, các bị cáo khác đều khẳng định thanh kiếm này là do Phùng A2 N1 lấy và đưa cho bị cáo H, không phải do bị cáo H chuẩn bị. Bị cáo Nguyễn Đức H1 chở bị cáo Nguyễn Quyền 1 cầm theo 01 két nhựa đựng vỏ chai thủy tinh. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các bị cáo đều có vai trò ngang nhau.
-
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Quyền L và Lê Hải A nhân thân chưa tiền án, tiền sự. Đối với bị cáo Phạm Trung H và Nguyễn Đức H1, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo còn có hành vi gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 04/11/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H quyết định khởi tố vụ án hình sự số 18 ngày 29/01/2024, khởi tố bị can số 69 ngày 30/01/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xét xử sơ thẩm vào ngày 02/7/2024, xử phạt bị cáo Phạm Trung H 30 tháng tù và bị cáo Nguyễn Đức H1 18 tháng tù (bản án chưa có hiệu lực pháp luật). Như vậy, thể hiện các có ý thức chấp hành pháp luật kém, liên tục thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
-
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Trung H có ông nội là thương binh. Bị cáo H1 có bà nội có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương. Bị cáo Lê Hải A có ông nội là bệnh binh, nên các bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-
Về hình phạt đối với các bị cáo:
-
Căn cứ vào vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo Phạm Trung H, Nguyễn Đức H1 phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
-
Đối với bị cáo Nguyễn Quyền L, bị cáo Lê Hải A: Các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Lê Hải A có thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, hiện bị cáo L đang là học sinh, các bị cáo đều được gia đình bảo lãnh có xác nhận của chính quyền địa phương từ trước đến nay chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 36 của Bộ Luật Hình sự, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với hai bị cáo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo, giúp các bị cáo nhận thức sai lầm để sửa chữa, trở thành người có ích cho xã hội.
-
Tại thời điểm phạm tội các bị cáo đều là người chưa thành niên (từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi) nên cần áp dụng các Điều 90, 91, 101 của Bộ Luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo, mức hình phạt bằng ¼ mức hình phạt áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội.
-
-
Bị cáo Nguyễn Quyền L và bị cáo Lê Hải A là người dưới 18 tuổi, không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 6 Điều 91 của Bộ luật Hình sự và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo khoản 2 Điều 100 của Bộ luật Hình sự.
-
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ: 01 kiếm bằng kim loại dài 1m, 01 két đựng bia bằng nhựa màu vàng ghi chữ "Bia Hải Phòng" bên trong chứa 16 vỏ chai vỏ thuỷ tinh, nhãn hiệu P2, thể tích 450ml.; 01 két đựng bia bằng nhựa màu đỏ ghi chữ "Habeco Bia Hà Nội" bên trong chứa 14 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu P2 thể tích 450ml và 02 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu Habeco H, thể tích 330ml được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng do Hoàng Công T3 tự nguyện giao nộp, qua giám định không phát hiện thấy thông tin liên quan đến vụ án. Do vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng nêu trên, riêng 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen cần trả lại cho Hoàng Công T3.
-
Về các nội dung khác:
-
Đối với Phùng Anh N1 hiện bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
-
Đối với Phạm Đức A1, Nguyễn Mạnh Đ, Hoàng Công T3, Hoàng Thế Đ1, Phùng Trí Đ2, Nguyễn Gia H8, Phạm Tiến D đã thực hiện hành vi tập chung thành nhóm cùng các bị cáo chuẩn bị hung khí nguy hiểm để đánh trả thù. Hành vi của các đối tượng trên có dấu hiệu phạm tội Cố ý gây thương tích theo khoản 6, Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên tại thời điểm phạm tội 07 đối tượng trên chưa đủ 16 tuổi, nên không phải chịu trách nhiệm hình đối với tội danh này. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
-
Đối với nhóm thanh niên cầm theo hung khí nguy hiểm đuổi đánh nhóm Phạm Trung H, đến nay chưa làm rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
-
-
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên người đại diện hợp pháp của các bị cáo có trách nhiệm nộp số tiền án phí thay bị cáo.
-
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt:
-
Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo H, H1, H); áp dụng Điều 38 đối với bị cáo Phạm Trung H và bị cáo Nguyễn Đức H1; áp dụng Điều 36, Điều 100 đối với bị cáo Nguyễn Quyền L và bị cáo Lê Hải A; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố các bị cáo Phạm Trung H, Nguyễn Quyền L, Nguyễn Đức H1, Lê Hải A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt:
- Bị cáo Phạm Trung H: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Bị cáo Nguyễn Đức H1: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Bị cáo Nguyễn Quyền L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Quyền L cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo Nguyễn Quyền L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Quyền L.
- Bị cáo Lê Hải A 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lê Hải A cho Ủy ban nhân dân phường N, quận H, thành phố Hải Phòng là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo Lê Hải A có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân phường N, quận H, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Lê Hải A.
Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Quyền L và bị cáo Lê Hải A.
Trong trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án”.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Quyền L và Lê Hải A.
-
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 01 kiếm bằng kim loại dài 1m phần chuôi kiếm dài 30cm, bản rộng nhất của lưỡi kiếm 3cm; 01 két đựng bia bằng nhựa màu vàng ghi chữ "Bia Hải Phòng" bên trong chứa 16 vỏ chai vỏ thuỷ tinh, nhãn hiệu P2, thể tích 450ml; 01 két đựng bia bằng nhựa màu đỏ ghi chữ "Habeco Bia Hà Nội" bên trong chứa 14 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu P2 thể tích 450ml và 02 vỏ chai thuỷ tinh, nhãn hiệu Habeco H, thể tích 330ml.
Trả lại cho anh Hoàng Công T3 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
-
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Người đại diện hợp pháp của các bị cáo Phạm Trung H, Nguyễn Quyền L, Nguyễn Đức H1, Lê Hải A nộp thay các bị cáo số tiền 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho các bị cáo Phạm Trung H, Nguyễn Quyền L, Nguyễn Đức H1, Lê Hải A được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy Hà |
Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 141/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
