Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 141/2024/HSST

Ngày: 06/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh;

Ông Nguyễn Hồng Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 27/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 26/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2024/HSST-QĐ ngày 08/8/2024 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Quốc H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1972.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: TDP T, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Đỗ Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị O (đã chết); Có vợ thứ nhất là Nguyễn Thị S (đã ly hôn), có 01 con chung sinh năm 1995; Có vợ thứ hai là Ngô Thị T, có 01 con chung sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 153 ngày 15/9/2006 Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt Đỗ Quốc H 05 năm tù về tội “Chứa mại dâm” (Đã chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2024, đến ngày 27/01/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt).

2. Nguyễn Thế M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1974.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: TDP T, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị G (đều đã chết); Có vợ thứ nhất là Cao Thị Thanh H1 (đã ly hôn), có 01 con chung sinh năm 2009; Có vợ thứ hai là Nguyễn Thị T1, có 01 con chung sinh năm 2015.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Tại Quyết định số 22/2020/QĐ-TA của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố P) đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thế M thời hạn 20 tháng (Đã chấp hành xong Quyết định vào ngày 30/5/2022, tại thời điểm phạm tội Nguyễn Thế M chưa được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Nhân thân: Tại Quyết định số 04/QĐ-XPHC ngày 01/7/2004 của Ban C xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng có mang theo vũ khí thơ sơ, cư trú, đi lại, hành nghề trái phép trong khu vực biên giới”. (Đã chấp hành xong Quyết định, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).

Tại Quyết định số 04/QĐ-VKS-P1, ngày 17/11/2006 và Quyết định số 05/QĐ-VKS-P1, ngày 17/11/2006 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã đình chỉ vụ án hình sự, đình chỉ vụ án đối với bị can Nguyễn Thế M về hành vi “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999 để xử lý hành chính. Tuy nhiên Công an thành phố P uỷ thác cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, tỉnh Quảng Nam thu thập Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thế M nhưng hồ sơ lưu trữ không có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo M xác định không nhận được Quyết định xử phạt. Trong trường hợp bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính từ thời điểm có quyết định đình chỉ vụ án mà không có căn cứ xác định bị cáo có hành vi cố tình trốn tránh, trì hoãn thi hành quyết định thì đến nay cũng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt. Áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, cần xác định trong trường hợp này Nguyễn Thế M được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2024, đến ngày 27/01/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt).

* Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1971; Địa chỉ: TDP C, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
  • + Anh Phan Văn Đ, sinh năm 1974; Địa chỉ: TDP T, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh H2, anh Đ vắng mặt).

* Người chứng kiến:

  • + Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1952; Địa chỉ: TDP T, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
  • + Ông Lê Hồng T3, sinh năm 1965; Địa chỉ: TDP K, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.

(Ông T2, ông T3 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 09 giờ 50 phút ngày 17/01/2024, Công an phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân B1 có một số đối tượng nghiện ma túy đang tụ tập sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà Đỗ Quốc H có địa chỉ tại tổ dân phố T, phường T. Tổ công tác Công an phường T tiến hành xác minh tin báo, đến nhà Đỗ Quốc H phát hiện có các đối tượng Đỗ Quốc H, Nguyễn Thế M, Nguyễn Văn H2 và Phan Văn Đ. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục tại nền nhà trước cửa phòng ngủ nhà H; 01 bật lửa ga màu đỏ có chữ Thống Nhất và 02 mảnh giấy bạc đã bị vo, cháy sém trong nhà H. H và H2 khai nhận vừa sử dụng ma túy loại Heroine, gói giấy màu trắng có chứa chất rắn màu trắng đục là gói ma tuý do H dùng còn thừa để lại. Còn Đ và M khai nhận không sử dụng ma túy ở nhà H nhưng có sử dụng trước đó vài ngày. Công an phường T đã lập biên bản sự việc, niêm phong vật chứng sau đó chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành test nhanh tìm chất ma tuý trong nước tiểu của Đỗ Quốc H, Nguyễn Thế M, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Thế M đều xác định dương tính với ma tuý loại MOP; đồng thời Cơ quan điều tra phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong và cân khối lượng số chất rắn màu trắng đục tạm giữ tại chỗ ở của Đỗ Quốc H được 0,013 gam, sau đó cho số chất rắn trên vào phong bì ký hiệu M gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 255/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,013 gam.

Tại Kết luận giám định số 1030/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của V, Bộ V kết luận: Không tìm thấy các chất ma tuý trong các mẫu gửi giám định gồm 01 túi nilon bên trong có mảnh giấy bạc đã bị cháy sém, 01 mảnh giấy bạc đã bị vo, 01 bật lửa ga màu đỏ có chữ “Thống nhất”.

Quá trình điều tra xác định được nội dung vụ việc như sau: Khoảng 09 giờ ngày 17/01/2024, Nguyễn Thế M đến nhà Đỗ Quốc H chơi. Khi đi M có mang theo 01 (một) gói ma túy, loại Heroine do M sử dụng trước đó còn thừa (bản thân M là người nghiện ma túy). Tại nhà H, H hỏi M “Chơi chưa” (ý nói M đã sử dụng ma tuý chưa) thì M nói “Chơi rồi, còn ít”. M lấy 01 gói ma túy mang theo đưa cho H, rồi M đi xuống bếp nhà H ăn cơm. H mang gói ma tuý vào phòng ngủ, lấy giấy bạc trong bao thuốc và bật lửa gas màu đỏ đặt trên bàn làm công cụ để sử dụng ma tuý. H lấy một phần ma tuý từ gói ma tuý M đưa cho để sử dụng, phần còn lại H để trên mặt bàn gỗ rồi H sử dụng ma tuý dưới hình thức hít vào cơ thể. Khi H đang hít ma tuý thì Nguyễn Văn H2 đến. H gọi H2 vào trong phòng để sử dụng ma tuý cùng do H2 là bạn nghiện ma tuý với H. H hỏi H2 “Làm khói không” thì H2 bảo “Có”, rồi H dùng mảnh giấy bạc có chứa ma tuý H đang hít dở và dùng bật lửa hơ bên dưới mảnh giấy bạc đưa lên trước miệng H2 để H2 hít ma tuý. H2 sử dụng ma tuý khoảng một phút thì đi ra ngoài còn H sử dụng nốt số ma tuý còn lại trên giấy bạc. Sử dụng ma tuý xong, H để mảnh giấy bạc trên mặt bàn gỗ, số ma tuý còn lại H thấy giấy bọc bị ẩm nên dùng giấy màu trắng khác để gói lại và để trên mặt bàn gần mảnh giấy bạc. Sau đó H đi ra đến cửa phòng ngủ thì thấy có Phan Văn Đ đang ngồi ở phòng khách, đúng lúc này cơ quan Công an đến kiểm tra. Thấy vậy, H có lấy chiếc áo khoác trên mặt bàn gỗ làm gói ma tuý rơi xuống sàn nhà. Sau đó cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản, thu giữ niêm phong vật chứng liên quan. Lời khai của Đỗ Quốc H và Nguyễn Thế M phù hợp với những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu M hoàn trả vỏ bao gói mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L bên trong chứa mẫu lưu kho; 01 phong bì niêm phong số 1030/KL-KTHS trên mép dán của phong bì có dấu tròn đỏ của V - Bộ V là các vật chứng của vụ án hoàn lại sau giám định được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.

Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 106/CT-VKSPY ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Đỗ Quốc H, Nguyễn Thế M về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; Thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày bản luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc H, Nguyễn Thế M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế M từ 39 tháng đến 42 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Quốc H từ 36 tháng đến 39 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong ký hiệu M hoàn trả vỏ bao gói mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L bên trong chứa mẫu lưu kho; 01 phong bì niêm phong số 1030/KL-KTHS trên mép dán của phong bì có dấu tròn đỏ của V - Bộ V;

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; Buộc các bị cáo Đỗ Quốc H, Nguyễn Thế M phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, các bị cáo nhất trí với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được Toà án triệu tập hợp lệ tuy nhiên tại phiên toà, những người làm chứng và người chứng kiến đều vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ, Kiểm sát viên, các bị cáo đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 293, 296 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 17/01/2024, Nguyễn Thế M có hành vi đưa 01 gói ma tuý, loại Heroine cho Đỗ Quốc H để H sử dụng trái phép chất ma tuý. H cho ma túy lên giấy bạc dùng bật lửa hơ nóng để sử dụng hít ma tuý vào cơ thể. Trong khi H đang sử dụng ma tuý thì Nguyễn Văn H2 đến, H đã giơ giấy bạc có chứa ma tuý lên để cho H2 sử dụng hít trái phép chất ma tuý vào cơ thể. Hành vi của M là cung cấp trái phép chất ma tuý cho H sử dụng, M không biết việc H2 sử dụng ma tuý cùng H. Hành vi của H là chuẩn bị công cụ, trực tiếp chế biến ma tuý để sử dụng cho bản thân và đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể của H2. Các đối tượng vừa sử dụng ma tuý xong thì bị Công an phường T phát hiện, lập biên bản và thu giữ vật chứng.

Hành vi, ý thức của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 109/CT-VKSPY ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Đỗ Quốc H, Nguyễn Thế M về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ.

“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”.

[4]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của bị cáo:

Xét tính chất, mức độ nghiệm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Đỗ Quốc H và Nguyễn Thế M đều là những đối tượng có nhân thân xấu.

Đỗ Quốc H được gia đình nuôi ăn học hết lớp 7/12 sau đó sinh sống và lao động tự do tại địa phương. Năm 2006 bị Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội “Chứa mại dâm” tại Bản án số 153 ngày 15/9/2006 (Đã chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích).

Nguyễn Thế M được gia đình nuôi ăn học hết lớp 7/12 sau đó sinh sống và lao động tự do tại địa phương. Ngày 01/7/2004 bị Ban Chỉ huy bộ Đ1 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng có mang theo vũ khí thơ sơ, cư trú, đi lại, hành nghề trái phép trong khu vực biên giới”. Tại Quyết định số 04/QĐ-VKS-P1, ngày 17/11/2006 và Quyết định số 05/QĐ-VKS-P1, ngày 17/11/2006 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã đình chỉ vụ án hình sự, đình chỉ vụ án đối với bị can Nguyễn Thế M về hành vi “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự để xử lý hành chính. Tuy nhiên nhưng hồ sơ lưu trữ không có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo M xác định không nhận được Quyết định xử phạt. Trong trường hợp bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính từ thời điểm có quyết định đình chỉ vụ án mà không có căn cứ xác định bị cáo có hành vi cố tình trốn tránh, trì hoãn thi hành quyết định thì đến nay cũng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt. Áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, cần xác định trong trường hợp này Nguyễn Thế M được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Ngày 22/6/2020 bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng. M đã chấp hành xong các Quyết định xử phạt/xử lý vi phạm hành chính nêu trên.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cùng được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra bị cáo M có bố đẻ là ông Nguyễn Văn P được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, Huân chương kháng chiến hạng nhì và bà nội là Nguyễn Thị N được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên cho bị cáo M được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội độc lập, không thuộc trường hợp đồng phạm với nhau do đó mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm riêng về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo M là người có ma tuý, cung cấp ma tuý cho bị cáo H để H sử dụng; bị cáo H đã trực tiếp chế biến để sử dụng số ma tuý này, đồng thời cung cấp ma tuý, địa điểm (sử dụng chính nơi ở của mình) cho H2 cùng sử dụng ma tuý, do đó, xác định vai trò của M cao hơn bị cáo H.

[5]. Về hình phạt: Từ các nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo là người có nhân thân xấu, mặc dù có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma tuý và các quy định của pháp luật về quản lý các chất ma tuý cũng như các chế tài hình sự đối với các hành vi phạm tội về ma tuý nhưng vì ham chơi, sa ngã nên vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo H đã từng chịu xử phán xét của Tòa án về tội “Chứa mại dâm”; bị cáo M là đối tượng nghiện ma túy đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng bản thân mà lại ngày càng lún sâu hơn vào con đường phạm tội. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp có căn cứ được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; vỏ bao mẫu lưu kho và phong bì chứa mẫu lưu kho không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật;

[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma tuý, theo M khai mua của một người tên T4, không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, triệu tập đối với người này.

Đối với Nguyễn Văn H2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà H và Phan Văn Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày trước đó nhưng H2 và Đ không tham gia giúp sức cho hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với H2 và Đ là phù hợp.

Đối với 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa 0,013 gam Heroine thu giữ tại nhà của H. H xác định là số ma tuý H được M cho nhưng sử dụng chưa hết, H cất đi để sau đó tiếp tục sử dụng. Bản thân H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi liên quan đến ma tuý mà khối lượng ma tuý H tàng trữ dưới 0,1 gam nên Công an thành phố P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với H là phù hợp.

[9]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về các vấn đề trong vụ án là có căn cứ, phù hợp, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc H, bị cáo Nguyễn Thế M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế M 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 18/01/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Quốc H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 18/01/2024.

Tạm giam bị cáo Đỗ Quốc H, Nguyễn Thế M 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M ghi hoàn trả vỏ bao gói mẫu M còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ số 1030/KL-KTHS của Bộ V - mẫu vật hoàn trả sau giám định.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố P với Chi cục THADS thành phố P).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Đỗ Quốc H, Nguyễn Thế M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - VKSND thành phố Phổ yên;
  • - Thi hành án thành phố Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 141/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Quốc H cùng Nguyễn Thế M bị truy tố, xét xử về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger