|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 141/2024/HS-ST Ngày 02-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tân Thịnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tấn và bà Nguyễn Thị Lại.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Công- Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trạc Thị D, sinh năm 1974; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Sán Chỉ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trạc Văn C (đã chết) và con bà: Trần Thị T (đã chết); bị cáo có chồng: Trần Văn D1, sinh năm 1974 và có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Chu Thế B, sinh năm 1981; (vắng mặt)
- Chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1986; (vắng mặt)
- Chị Đỗ Thị N, sinh năm 1995; (vắng mặt)
- Chị Hầu Thị S, sinh năm 1979; (vắng mặt)
- Công ty T4;
Địa chỉ: Thôn Q, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn Hấn, xã Hương Gián, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn Thần Chúc, xã Tiên Sơn, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà Phụ Nữ, số B N, đường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Bùi Đức V, sinh năm 1989; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trạc Thị D làm công nhân tại Công ty trách nhiệm hữu hạn M (viết tắt là Công ty M), địa chỉ tại tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V (nay là phường B, thị xã V), tỉnh Bắc Giang từ năm 2016 đến tháng 5 năm 2022. Khi xin việc làm tại Công ty M, Dương mượn Giấy chứng minh nhân dân (viết tắt là Giấy CMND) của chị Hầu Thị S người cùng quê để đi làm hồ sơ xin việc. Sau khi làm xong hồ được nhận vào làm việc thì D đã trả lại Giấy CMND cho chị S. Khoảng tháng 11 năm 2021, do Công ty M ít việc làm nên D có ý định đi xin làm thời vụ để có thêm thu nhập. Do bản thân không có Căn cước công dân (viết tắt là CCCD) để xin việc, nên D đã liên hệ qua mạng xã hội Facebook với tài khoản “Erature dissoci” có quảng cáo dịch vụ làm các loại giấy tờ giả như CCCD, Giấy CMND, giấy tờ xe... của người không biết họ tên, địa chỉ và được cung cấp số thuê bao 0906.728.533 để liên lạc mua giấy tờ giả. D đặt mua của người có tài khoản Facebook “Erature dissoci" 01 CCCD có hình ảnh của D, địa chỉ của D nhưng năm sinh của Dương sửa từ 1974 thành 1990, mục đích sử dụng đi xin việc làm thời vụ. Sau đó, người có tài khoản Facebook "Erature dissoci” đã làm và bán cho D 01 CCCD giả mang thông tin: “số 0190 9002 2822, gắn chíp, có hình ảnh, tên Trạc Thị D, sinh ngày 28/2/1990, nơi thường trú xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, đóng dấu cơ quan cấp là Cục quản lý hành chính về trật tự xã hội, cấp ngày 04/5/2021, có chữ ký Cục trưởng Cục Q về trật tự xã hội- Phạm Công N1” với số tiền 1.000.000 đồng. D nhận CCCD giả và trả tiền trực tiếp cho người làm CCCD giả cho D thông qua dịch vụ ship hàng.
Tháng 8 năm 2021, D có quen biết với anh Chu Thế B rồi cả hai sống chung như vợ chồng tại tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V (nay là phường B, thị xã V). Đến tháng 11/2021, anh B nhờ D đứng tên vay tiền trả góp số tiền 40.000.000, do anh B có nợ xấu Ngân hàng nên không vay được thì D đồng ý.
Khoảng đầu tháng 12/2021, D liên hệ với chị Hoàng Thị T1 là nhân viên Công ty T4 (viết tắt là Công ty H3) để vay số tiền 40.000.000 đồng hộ anh B. Ngày 05/12/2021, chị T1 đến phòng trọ của D ở tổ dân phố T, phường B, thị xã V để làm thủ tục, hồ sơ cho D vay tiền. Quá trình làm thủ tục, hồ sơ vay tiền thì chị T1 yêu cầu D cung cấp thông tin và kiểm tra thông tin trên hệ thống của Công ty. D đưa cho chị T1 CCCD giả số [...] mang tên Trạc Thị D, sinh ngày 28/2/1990, cấp ngày 04/5/2021, nơi thường trú xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và thông tin người nhà, người liên hệ, số điện thoại, công việc, thu nhập của D. Chị T1 nhập thông tin của D lên hệ thống thì được phê duyệt khách hàng được vay vốn gói 40.000.000 đồng. Khi thông tin vay vốn của D được chấp thuận, hợp đồng ký qua App cho vay của Công ty T4. Quá trình ký hợp đồng thì chị T1 chụp ảnh chân dung của D và thông tin căn cước của D đưa vào hồ sơ vay vốn. Chị T1 hướng dẫn Dương tải App H về điện thoại. App được tải về máy của D thì chị T1 hướng dẫn, đồng thời giúp D nhập số điện thoại đăng ký, tạo mật khẩu, ký tên xác thực qua điện thoại và tiến hành ký hợp đồng qua App (Hợp đồng số 4104892554 ngày 05/12/2021); đồng thời D mở tài khoản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M1), số tài khoản 9704229204987344562 bằng thông tin CCCD giả mà D đã cung cấp để nhận tiền giải ngân. Sau khi ký hợp đồng qua ứng dụng Home Credit, D được Công ty T4 cho vay 44.806.000 đồng, bao gồm 40.000.000 đồng tiền Công ty giải ngân và 4.806.000 đồng phí bảo hiểm hợp đồng. Công ty T4 giải ngân số tiền 40.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của D có số 9704229204987344562 tại Ngân hàng M1. Sau đó, D nhờ chị T1 chuyển số tiền 40.000.000 đã được giải ngân sang số tài khoản 0731000600988 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 (V1) mang tên Hầu Thị S là Ngân hàng M trả lương cho D hàng tháng. Nhận được tiền vay, D đã rút tiền đưa cho anh B. Sau đó, anh B đã chi tiêu hết số tiền cùng D; hàng tháng (từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 5 năm 2022), D đều chuyển tiền trả góp cho Công ty T4, mỗi tháng trả cả gốc và lãi số tiền 2.875.000 đồng theo quy định; anh B có góp tiền cho D trả cho Công ty T4.
Tháng 3 năm 2022, D tiếp tục liên hệ qua mạng xã hội Facebook với tài khoản “Erature dissoci” đặt mua 01 CCCD có hình ảnh của D, nhưng mang tên Hầu Thị S, sinh ngày 20/6/1979, nơi thường trú ở thôn T, B, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang với mục đích để thanh toán tiền bảo hiểm xã hội làm việc ở Công ty M (do hồ sơ D làm ở Công ty lấy tên Hầu Thị S, Giấy CMND trước đó đã trả lại cho chị S). Sau đó, người có tài khoản Facebook "Erature dissoci” đã làm và bán cho D 01 CCCD giả mang thông tin: “số 0241 79062011, gắn chíp, có hình ảnh của Trạc Thị D, mang tên Hầu Thị S, sinh ngày 20/6/1979, nơi thường trú: Thôn T, TT. B, V, tỉnh Bắc Giang, đóng dấu của cơ quan cấp là Cục Q về trật tự xã hội, cấp ngày 10/4/2022, có chữ ký Cục trưởng Cục Q về trật tự xã hội- Phạm Công N1” với số tiền 1.000.000 đồng. Cũng giống như lần trước, Dương nhận CCCD giả và trả số tiền 1.000.000 đồng trực tiếp cho người làm CCCD giả thông qua dịch vụ ship hàng.
Đến tháng 5 năm 2022, Chu Thế B tiếp tục nhờ D đứng tên vay trả góp số tiền 50 triệu đồng thì D đồng ý. D liên hệ với chị Đỗ Thị N cũng là nhân viên Công ty T4 để làm thủ tục vay tiền. D có gửi thông tin thẻ căn cước giả số [...] mang tên Trạc Thị D để tiếp tục vay tiền nhưng không được chấp nhận do thông tin thẻ Căn cước đã làm hồ sơ thủ tục vay trước đó. Đến ngày 24/7/2022, D tiếp tục liên hệ với chị N để vay vốn trả góp, chị N có hẹn D đến của hàng xe máy Hoàn Hảo ở thị trấn B, huyện V (nay là phường B, thị xã V) để hướng dẫn làm thủ tục vay tiền. Tại đây, D đưa cho chị N 01 Căn cước giả số [...] mang tên Hầu Thị S để kiểm tra thông tin điều kiện vay vốn. Do chị N có nghi ngờ D sử dụng CCCD giả để vay vốn nên chị N có chụp lại và gửi về phòng an ninh của Công ty T4 để kiểm tra, rồi hẹn D khi nào Công ty đồng ý cho vay thì thông báo. Cùng trong thời gian này, D và anh B xảy ra mâu thuẫn nên không ở cùng nhau, anh B cũng không đưa tiền cho D để trả Công ty T4. Do việc làm không ổn định, cho rằng khoản tiền vay trước đó anh B phải trả, nên D chưa trả tiền tiếp cho Công ty T4.
Qua kiểm tra, xác minh thông tin khách hàng vay, Công ty T4 phát hiện thông tin Hầu Thị S và Trạc Thị D không chính xác; nên ngày 10/11/2022, chị N hẹn gặp D tại cửa hàng xe máy Sang H tại thị trấn B, huyện V (nay là phường B, thị xã V) để làm thủ tục vay tiền. Tại đây, D vẫn sử dụng thẻ Căn cước giả số [...] mang tên Hầu Thị S đưa cho chị N để vay tiền thì bị chị N và anh Bùi Đức V là chuyên viên an ninh Công ty T4 phát hiện là giả nên đã lập biên bản làm việc với D. D thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng CCCD giả để làm thủ tục vay tiền rồi tự nguyện giao 01 thẻ căn cước giả số [...] mang tên Hầu Thị S nêu trên.
Ngày 31/10/2023, anh Bùi Đức V là người đại diện theo ủy quyền của Công ty T4 làm đơn trình báo hành vi vi phạm pháp luật của D đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang đồng thời giao nộp 01 Căn cước số công dân [...] mang tên Hầu Thị S do D giao nộp trước đó, cùng hồ sơ vay tiền của D đối với Công ty vào ngày 05/12/2021, trong hồ sơ có hình ảnh CCCD D làm giả mang tên D số 0190 9002 2822 như nêu trên cùng hình ảnh D.
Ngày 02/11/2023, Trạc Thị D tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 và 01 thẻ ngân hàng V1 mang tên Hầu Thị S để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 25/12/2023, Cơ quan điều tra thu giữ được tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 hồ sơ thông tin D sử dụng CCCD giả mở tài khoản số 9704229204987344562 vào ngày 05/12/2021, kèm theo lịch sử giao dịch.
Tại Kết luận giám định số 2496/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “CCCD” số [...] mang tên Hầu Thị S gửi giám định là giả.
Quá trình điều tra vụ án, D và anh B còn khai nhận: khoảng đầu năm 2022, cả hai mua của một người không quen biết mỗi người một Giấy phép lái xe mô tô để sử dụng điều khiển xe mô tô không bị Công an xử phạt. Anh B tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 Giấy phép lái xe mô tô giả số [...] mang tên Chu Thế B.
Kết quả điều tra xác định số thuê bao 0906728533 người có tài khoản Facebook “Erature dissoci” cho D để liên hệ làm CCCD giả, được đăng ký chính chủ là anh Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1991, trú tại xã X, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Quá trình làm việc với anh S1 xác định không sử dụng số điện thoại nêu trên và không sử dụng tài khoản “Erature dissoci” nên không có căn cứ xử lý anh S1.
Đối với người bán giấy tờ giả cho D và anh B, cả hai không biết là ai nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra và đề nghị xử lý sau.
Đối với CCCD giả có số [...] mang tên Trạc Thị D, sinh ngày 28/2/1990, cấp ngày 04/5/2021 và Giấy phép lái xe mô tô giả mang tên D, D khai đã rơi mất, không biết rơi ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
*Trách nhiệm dân sự: Bị cáo D và anh B đã trả hết tiền vay cho Công ty T4 theo hợp đồng vay, hiện Công ty T4 không có yêu cầu và đề nghị gì về dân sự.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 119/CT-VKS ngày 23 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Trạc Thị D phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên giữ quyền công tố sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Trạc Thị D từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- - Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Trạc Thị D phải chịu 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 CCCD số [...] mang tên Hầu Thị S; 01 thẻ Ngân hàng V1 mang tên Hầu Thị S2; 01 Giấy phép lái xe mô tô số [...] mang tên Chu Thế B.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại di động Oppo A93 của bị cáo.
Sau khi nghe bản luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo, người giám hộ không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện V (nay là thị xã V), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đảm bảo theo trình tự tố tụng hình sự.
[2] Năm 2016, Trạc Thị Dương mượn Chứng minh nhân dân của chị Hầu Thị S, sinh năm 1979 ở cùng thôn để xin vào làm việc tại Công ty M, ở tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V (nay là phường B, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022, D chưa có Căn cước công dân nên đã mua của một người không quen biết 02 Căn cước công dân giả có tên cơ quan cấp là Cục Q về trật tự xã hội, trong đó: 01 Căn cước công dân giả số [...] mang tên Trạc Thị D mục đích dùng để đi xin việc làm thêm; 01 Căn cước công dân giả số [...] mang tên Hầu Thị S mục đích để thanh toán tiền bảo hiểm xã hội khi làm việc tại Công ty M. Sau đó, D được anh Chu Thế B là người sống chung như vợ chồng với D nhờ đứng tên vay tiền trả góp hộ thì D đồng ý. Ngày 05/12/2021, D đã sử dụng Căn cước công dân giả mang tên Trạc Thị D để làm thủ tục vay 40.000.000đồng của Công ty T4 và mở tài khoản ngân hàng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M1) để nhận khoản tiền vay. Tiếp đó, ngày 10/11/2022, D tiếp tục sử dụng Căn cước công dân giả số [...] mang tên Hầu Thị S để vay tiền trả góp của Công ty T4 hộ anh B thì bị nhân viên Công ty phát hiện D sử dụng giấy tờ giả nên không cho vay tiền và trình báo Cơ quan điều tra.
[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với: Thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trạc Thị D phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được việc làm giả, sử dụng tài liệu, con dấu không do cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền cấp là vi phạm pháp luật, hành vi của bị cáo chỉ vì muốn có công ăn việc làm và muốn có thu nhập thêm mà thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã lên trang mạng xã hộị cung cấp thông tin cá nhân không chính xác về mình để làm giả giấy tờ tuỳ thân để lừa dối tổ chức, cơ quan chức năng. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn tiếp tay, tạo điều kiện thúc đấy các đối tượng xấu trong xã hội thực hiện hành vi trái pháp luật gây ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực trong xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường về trật tự quản lý hành chính của nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý giấy tờ, tài liệu, con dấu. Do vậy cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc tương xưng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, sau khi xem xét đến tính chất, nhân thân của bị cáo thì thấy: Mặc dù bị cáo không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao sửa đổi bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Bị cáo không đủ điều kiện để cho hưởng hình phạt tù có điều kiện (cho hưởng án treo). Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm, không có tài sản, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 01 CCCD số [...] mang tên Hầu Thị S;. 01 thẻ ngân Vietcombankmang tên H1 thị S và 01 Giấy phép lái xe mô tô số [...] mang tên Chu Thế B được xác định là giấy tờ, tài liệu giả không được phép sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động Oppo A93, 128G, màu xanh lục của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội do vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước;
Đối với 01 CCCD giả có số [...] mang tên Trạc Thị D, sinh ngày 28/2/1990, cấp ngày 04/5/2021 và Giấy phép lái xe mô tô giả mang tên D, D khai đã rơi mất, không biết rơi ở đâu, cơ quan điều tra đã truy tìm tang vật nhưng không thu giữ được, do vậy không đặt ra giải quyết.
[7] Trách nhiệm dân sự: Bị cáo D đã sử dụng thông tin giả để vay tiền Công ty T4, tuy nhiên bị cáo và anh B đã trả hết tiền vay cho Công ty T4 theo hợp đồng vay, hiện Công ty T4 không có yêu cầu và đề nghị gì về dân sự, do vậy không đặt ra giải quyết.
[8] Liên quan trong vụ án này đối với số thuê bao 0906728533 người có tài khoản Facebook “Erature dissoci” cho D để liên hệ làm CCCD giả, được đăng ký chính chủ là anh Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1991, trú tại xã X, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Quá trình điều tra, xác định anh S1 không sử dụng số điện thoại nêu trên và không sử dụng tài khoản “Erature dissoci" nên không có căn cứ xử lý anh S1.
Việc bị cáo vay tiền Công ty T4 là hợp đồng dân sự, bị cáo không có ý định lừa dối nhằm chiếm đoạt khoản tiền vay nên không cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đối với hành vi anh B và D mua Giấy phép lái xe mô tô giả chỉ nhằm xuất trình khi tham gia giao thông khi bị lực lượng chức năng kiểm tra, ngoài ra không có mục đích gì khác, hơn nữa bị cáo và anh B cũng chưa sử dụng nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã làm thủ tục chuyển Công an thị xã V để xử phạt hành chính theo quy định là phù hợp.
Đối với Chu Thế B có nhờ bị cáo Trạc Thị D đứng tên vay tiền của Công ty T4, tuy nhiên anh B không biết việc D sử dụng 02 CCCD giả để làm thủ tục vay tiền nên không vi phạm pháp luật.
Chị Hầu Thị S không biết, không giúp sức cho D làm giả CCCD mang tên chị S nên không vi phạm pháp luật.
Đối với người bán giấy tờ giả cho D và anh B, cả hai không biết là ai nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra và đề nghị xử lý sau.
[9] Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm.
[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Trạc Thị D 02 (H2) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
- Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Tịch thu tiêu huỷ 01 CCCD số [...] mang tên Hầu Thị S; 01 Giấy phép lái xe mô tô giả số [...] mang tên Chu Thế B; 01 thẻ ngân V1 mang tên Hàu thị Sáu.
Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo Trạc Thị D 01 điện thoại di động Oppo A93, 128G màu xanh lục.
(theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa cơ quan điều tra công an thị xã V và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên).
Bị cáo Trạc Thị D phải chịu 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Văn T2 – Nguyễn Thị Lại V |
Vũ Tân Thịnh |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND thị xã Việt Yên;
- - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- - Trại Tạm gian Công an tỉnh Bắc Giang;
- - Công an thị xã Việt Yên;
- - Chi cục THA DS thị xã Việt Yên;
- - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu: HSVA- VP.
Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 141/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Làm giả
