Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/HS-PT

Ngày: 28-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Phú Thọ.
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Ngọc Thông.
Ông Phạm Minh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 120/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Văn B. Do có kháng cáo của bị cáo Đặng Văn B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2025/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Đặng Văn B, sinh năm 1992; tại Đồng Tháp; Nơi thường trú: Tổ A, Ấp E, xã P, huyện C và chỗ ở hiện nay: Số D, Đặng Văn B1, Tổ F, Khóm A, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Mua bán; Con ông Đặng Văn B2, sinh năm 1953 và bà Đặng Thị L, sinh năm 1954; Có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; Vợ Nguyễn Thị Kiều O (đã ly hôn năm 2017), hiện đang chung sống như vợ chồng với chị Lâm Thị Dương C (chưa đăng ký kết hôn); có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Những người tiến hành tố tụng khác: Không có.

Trong vụ án còn có bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 24/7/2024, Đặng Văn B cùng em vợ Lâm Nhất L1, sau khi đã có uống bia cùng nhau tại quán “Lúa Vàng”, đã cùng vợ B là Lâm Thị Dương C và người bạn tên Bùi Ngọc H, đến quán ăn tên “Thảo” của chị Phạm Thị Kim Y, địa chỉ Tổ B, Khóm B, Phường B (nay là Khóm G, Phường A), thành phố C để ăn cháo.

Trong lúc ăn uống, anh B nói “Đồng tiền mình làm ra thì mình xài, không dựa dẫm vào ai” thì L1 nói “mấy người đang ăn nhậu trên đồng tiền của tôi đỏ” nên L1 và B xảy ra mâu thuẫn cự cãi, cả hai lao vào câu vật, xô đẩy với nhau, L1 dùng tay đánh vào mặt B một cái, B dùng tay phải cầm ly thủy tinh loại có quay để trên bàn ăn đánh một cái trúng vào vùng trán của L1 làm ly thủy tinh bị bể, L1 có dùng tay phải đỡ nên bị thương mặt trước đốt ngón I bàn tay, lòng bàn tay phải, B tiếp tục cầm ly thủy tinh bị bể đánh tiếp một cái trúng phần mềm vùng chẩm đầu làm rách da một đoạn dài 03cm, chảy nhiều máu làm Lang ngã xuống nền gạch, B dùng chân đá một cái vào mặt của L1 thì anh H và chị C đến can ngăn, L1 bật dậy dùng tay đánh trúng vào mũi chị C một cái chảy máu nhưng không có thương tích và cả hai cũng dừng đánh nhau. Lúc này, chị Y thấy anh L1 đầu bị chảy máu nên điện thoại báo Công an P (nay là Phường A), thành phố C đến giải quyết và đưa anh L1 đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ khâu vết thương, điều trị thương tích, đến ngày 29/7/2024 xuất viện. Ngày 27/7/2024 anh L1 làm đơn tố giác yêu cầu xử lý hình sự đối với Đặng Văn B về hành vi cố ý gây thương tích.

- Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 105/KLTTCT-TTPYĐT ngày 14/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận: Lâm Nhất L1 bị sẹo vết thương phần mềm vùng trán trái tỷ lệ 03%; sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm, mặt trước đốt xa ngón I bàn tay phải mỗi sẹo 01%; vết biến đổi sắc tố da mặt lòng bàn tay phải tỷ lệ 01%. Tổng cộng thương tích tỷ lệ 06% tại thời điểm giám định, do ngoại lực tác động, do vật sắc và vật tày gây ra.

Về vật chứng tạm giữ gồm: Nhiều mảnh vỡ của ly thủy tinh do bị cáo sử dụng đánh gây thương tích cho người bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Lâm Nhất L1 không yêu cầu bị cáo B bồi thường chi phí điều trị, ngày công lao động, tổn thất tinh thần.

Quá trình điều tra bị cáo Đặng Văn B đã thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai người bị hại, người liên quan, người làm chứng, vật chứng và chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án như đã nêu trên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2025/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn B 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 468, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.

Bị cáo Đặng Văn B có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Phạm Nhất L2 số tiền 5.000.000 đồng, số tiền này bị cáo đã nộp tại Cơ quan Thi hành án thành phố C theo biên lai thu số 0003992 ngày 28/02/2025.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 28 tháng 4 năm 2025, bị cáo Đặng Văn B có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm hình phạt tù.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Đặng Văn B bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Đặng Văn B kháng cáo xin được giảm hình phạt tù. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra và các phiên toà sơ thẩm bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nhưng bị cáo vẫn nộp tiền khắc phục thiệt hại cho bị hại tại Chi cục thi hàn án thành phố C. Án sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo, tuyên buộc bị cáo bồi thường thiệt cho bị hại và áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đối với bị cáo là chưa phù hợp.

Nhưng xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn B, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo Đặng Văn B không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Văn B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Đây là vụ án “Cố ý gây thương tích” do bị cáo Đặng Văn B thực hiện, khoảng 22 giờ 30 phút ngày 24/7/2024, tại Tổ B, Khóm B, Phường B, thành phố C, anh Lâm Nhất L1 ngồi ăn cháo cùng vợ chồng chị ruột là Lâm Thị Dương C và Đặng Văn B. Trong lúc ăn uống thì L1 và B xảy ra mâu thuẫn cự cãi, đánh nhau, B tay phải cầm ly thủy tinh loại ly có quay đánh trúng vùng trán của L1,

L1 dùng tay phải đỡ nên bị thương ngón I bàn tay phải, B tiếp tục cầm phần ly thủy tinh bị bể đánh trúng vùng chẩm đầu của L1 làm rách da chảy máu, dùng chân đá vào mặt của L1 một cái, gây thương tích với tổng tỷ lệ thương tích là 06%. Từ những căn cứ nêu trên, đã đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Đặng Văn B là phạm tội, đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm 1 Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Đặng Văn B là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã dùng ly thủy tinh loại ly có quay gây thương tích cho bị hại. Bị cáo nhận thức được ly thủy tinh loại ly có quay là hung khí nguy hiểm, nhận thức được việc dùng ly thủy tinh loại ly có quay này tác động vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho bị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 06%, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra và các phiên toà sơ thẩm bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nhưng bị cáo vẫn nộp tiền khắc phục thiệt hại cho bị hại tại Chi cục T hàn án dân sự thành phố C. Án sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo, tuyên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.0000 đồng và áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đối với bị cáo là chưa phù hợp.

Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đã có xem xét, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đặng Văn B.

[4] Đối với số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại Cơ quan Thi hành án thành phố C theo biên lai thu số 0003992 ngày 28/02/2025. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo B yêu cầu được nhận lại nên trả lại cho bị cáo số tiền này.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Đặng Văn B là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[6] Do kháng cáo của bị cáo Đặng Văn B không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Văn B. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đặng Văn B; Sửa một phần nội dung của bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn B 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

3. Bị cáo Đặng Văn B được lại số tiền 5.000.000 đồng, mà bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh theo biên lai thu số 0003992 ngày 28/02/2025.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Văn B phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND TP. Cao Lãnh (03);
  • - VKSND TP. Cao Lãnh;
  • - Chi cục THADS TP. Cao Lãnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA (4) (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Phú Thọ

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2025/HS-PT ngày 28/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 141/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger