Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-5-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương. Ông Ngô Văn Bê.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết .

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐ-ST ngày 15/5/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị T, sinh ngày 30/8/1988 (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Hiện đang ở: Số C, đường Đ, khu phố Đ, thị trấn T, huyện N, lãnh thổ Đài Loan.

    Chị T ủy quyền cho chị Nguyễn Kiều T1, sinh năm 2002; Nơi cư trú: tổ F phường M, thành phố H, tỉnh Hà Giang; Nơi ở hiện nay: ngõ D phường X, quận B, thành phố Hà Nội giao nhận tài liệu với Tòa án (văn bản ủy quyền ngày 25/02/2025, không triệu tập).

  3. Bị đơn: Anh Trịnh Văn V, sinh ngày 30/01/1984 (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai đề ngày 25/02/2025 (có chứng thực của Văn phòng kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đ) nguyên đơn chị Lương Thị T trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh V được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 18/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình chung sống, chị và anh V chung sống hạnh phúc được một thời gian. Sau đó vì điều kiện gia đình khó khăn nên năm 2018 chị đi lao động tại Đài Loan theo diện xuất khẩu lao động để xây dựng kinh tế gia đình. Từ đó, vợ chồng ngày càng nảy sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thường xuyên hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do khoảng cách địa lý xa xôi, mỗi người một nơi, cả hai dần bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu, ngày càng trở nên xa cách, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng chị đã nhiều lần nói chuyện hàn gắn tình cảm, hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, điều này ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng và việc chăm sóc, giáo dục con cái. Nay, chị nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai đều không quan tâm đến nhau nên chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn anh V để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: chị, anh V có 02 con chung là cháu Trịnh Diệp T2, sinh ngày 14/03/2014 và cháu Trịnh Khôi N, sinh ngày 09/10/2016. Hiện nay hai cháu đang sinh sống cùng bố. Tuy nhiên, kể từ khi các con ra đời, chị luôn quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm nhận mọi trách nhiệm về sức khỏe, học tập và sinh hoạt của các con. Về học hành của các con mặc dù chị đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài nhưng cô giáo của các con vẫn thường xuyên liên lạc với chị để thông báo tình hình học tập và những vấn đề liên quan đến sự phát triển của các con. Chị luôn quan tâm, theo sát việc học tập của các con, đảm bảo các con không bị gián đoạn trong quá trình học tập. Anh V mặc dù có thời gian sống cùng các con nhưng không tham gia vào việc học tập của các con. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con. Chị đề nghị Tòa án tạm giao cho bà Giáp Thị T3 (là mẹ đẻ chị) chăm sóc hai cháu trong thời gian chị ở nước ngoài.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật

Về tài sản, công nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị T trình bày: do chị đang lao động ở nước ngoài nên chị đề nghị vắng mặt tại các buổi làm việc do Tòa án triệu tập và các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và các phiên tòa xét xử. Chị ủy quyền cho chị Nguyễn Kiều T1, sinh năm 2002; nơi cư trú: tổ F phường M, thành phố H, tỉnh Hà Giang; nơi ở hiện nay: ngõ D phường X, quận B, thành phố Hà Nội giao nhận tài liệu với Tòa án.

Theo bản tự khai, bị đơn anh Trịnh Văn V trình bày:

Về hôn nhân: Về quá trình tìm hiểu đi đến hôn nhân, quá trình chung sống của vợ chồng, nguyên nhân, thời gian mâu thuẫn của vợ chồng anh nhất trí với trình bày của chị T. Nay anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn chị T.

Về con chung: anh và chị T có 02 con chung là cháu Trịnh Diệp T2, sinh ngày 14/03/2014 và cháu Trịnh Khôi N, sinh ngày 09/10/2016. Sau khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con chung cho anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh không đồng ý giao con chung cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Do bận công việc nên anh xin vắng mặt tại các buổi làm việc và các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và xin xét xử vắng mặt anh.

Về tài sản, công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cháu Trịnh Diệp T2, Trịnh Khôi N trình bày: Cháu từ khi sinh ra đến nay vẫn sinh sống cùng bố mẹ, được bố mẹ chăm sóc đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần. Mẹ các cháu hiện vẫn đang lao động tại nước ngoài chưa về nước nên nếu bố mẹ ly hôn các cháu muốn ở cùng bố.

Tại phiên tòa, chị Lương Thị T, anh Trịnh Văn V vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Lương Thị T, anh Trịnh Văn V và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị T; xử:

Về hôn nhân: chị Lương Thị T được ly hôn anh Trịnh Văn V.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trịnh Diệp T2, sinh ngày 14/03/2014 và cháu Trịnh Khôi N, sinh ngày 09/10/2016 cho anh Trịnh Văn V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: do chị T, anh V không ai yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: chị T khởi kiện xin ly hôn anh V và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: chị Lương Thị T là nguyên đơn hiện đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài, anh Trịnh Văn V là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có nguyên đơn chị T đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị T, bị đơn anh V đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T, anh V

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T và anh Trịnh Văn V kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 18/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh V phát sinh mâu thuẫn. Chị T khởi kiện xin ly hôn anh V.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh V, Hội đồng xét xử thấy: chị T, anh V đều xác định vợ chồng không còn tình cảm, đã ly thân nhau một thời gian dài, không còn liên lạc với nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó nên Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh V, chị T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T với anh V là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp với Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5]. Về con chung: chị T, anh V có 02 con chung là cháu Trịnh Diệp T2, sinh ngày 14/03/2014 và cháu Trịnh Khôi N, sinh ngày 09/10/2016. Sau khi ly hôn, cả anh V và chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 cháu. Cháu T2 và cháu N đều có nguyện vọng được ở cùng bố.

Xét yêu cầu được nuôi con chung của chị T, anh V, Hội đồng xét xử thấy: chị T hiện đang lao động tại nước ngoài nên không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Các con chung từ khi chị T đi lao động nước ngoài đều do anh V chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu phát triển bình thường. Mặt khác cháu T2, cháu N đều có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu giao nuôi con chung sau ly hôn của chị T, mà chấp nhận đề nghị được nuôi con chung của anh V. Nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình giao cháu Trịnh Diệp T2, sinh ngày 14/03/2014 và cháu Trịnh Khôi N, sinh ngày 09/10/2016 cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác sau khi ly hôn là có căn cứ và đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của các con chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn chị Lương Thị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Trường hợp chị Lương Thị T có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7]. Về tài sản chung, công nợ: Do chị T, anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về quyền kháng cáo: Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị T đang cư trú tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, anh V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị T.

  1. Về hôn nhân: Chị Lương Thị T được ly hôn anh Trịnh Văn V.
  2. Về con chung: Giao cháu Trịnh Diệp T2, sinh ngày 14/03/2014 và cháu Trịnh Khôi N, sinh ngày 09/10/2016 cho anh Trịnh Văn V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  3. Sau khi ly hôn, chị Lương Thị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.

  4. Về án phí: Chị Lương Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000484 ngày 01/04/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Lương Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo bản án:
  6. Chị Lương Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Anh Trịnh Văn V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Đ, huyện L; tỉnh Bắc Giang.
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

6

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 141/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị T và anh V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger