Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN ĐẦM DƠI,

TỈNH CÀ MAU

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28 – 5 – 2025

Về việc tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Đoàn

Ông Lê Văn Chuộng

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 77/2025/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Huỳnh Hồng M, sinh năm 1993. Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980. Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Ngô Ánh N, sinh năm 1969. Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
    2. Anh Hồ Hoàng N1, sinh năm 1982. Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
    3. Anh Phan Minh D, sinh năm 1979. Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
    4. Bà Nguyễn Thị T. Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Hồng M trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Đ chung sống vào 2009 đến năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó do bất đồng ý kiến, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cự cãi nhau nhiều lần, gia đình không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay; tình cảm vợ chồng không còn, nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

- Về con chung: Có một người con tên Nguyễn Kim C, sinh ngày 28/6/2010, đang sống với anh Đ. Khi ly hôn, chị yêu cầu giao con cho anh Đ nuôi, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T để cầm cố cho anh Phan Minh D 100.000.000 đồng vào năm 2022. Thời hạn 03 năm, đến cuối năm 2025 hết hạn hợp đồng; nợ bà Ngô Ánh N số tiền 60.500.000 đồng, nhưng anh Đ không nhận trách nhiệm nên chị nhận trách nhiệm trả nợ cho bà N; nợ anh Hồ Hoàng N1 35.000.000 đồng, chị nhận trách nhiệm trả 17.500.000 đồng và anh Đ trả 17.500.000 đồng cho anh N1. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được tự thỏa thuận với anh D, bà T, bà N và anh N1, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị M về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn; vợ chồng cự cãi nhau nhiều lần, nhưng không có mâu thuẫn gì lớn, vợ chồng không còn chung sống với nhau trong một mái nhà, sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Vợ chồng có cuộc sống riêng, mạnh ai người ấy sống, không ai quan tâm ai, gia đình không hạnh phúc, chị M yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý.

- Về con chung: Có một người con tên Nguyễn Kim C, sinh ngày 28/6/2010, đang sống với anh Đ. Khi ly hôn, anh Đ đồng ý nhận trách nhiệm nuôi con, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đặt ra yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T để cầm cố cho anh Phan Minh D 100.000.000 đồng vào năm 2022. Thời hạn 03 năm, đến cuối năm 2025 hết hạn hợp đồng; nợ bà Ngô Ánh N số tiền 60.500.000 đồng, chị M nhận trách nhiệm trả nợ cho bà N; nợ anh Hồ Hoàng N1 35.000.000 đồng, chị M trả 17.500.000 đồng và anh Đ trả 17.500.000 đồng cho anh N1. Khi ly hôn, anh Đ yêu cầu được tự thỏa thuận với anh D, bà T, bà N và anh N1, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Ánh N trình bày:

Năm 2024, hai bên đã kết toán nợ lại vợ chồng anh Đ, chị M nợ bà tổng số tiền 60.500.000 đồng, chị M nhận trách nhiệm trả nợ cho bà. Khi chị M và anh Đ ly hôn, bà yêu cầu được tự thỏa thuận với anh Đ, chị M, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau này có tranh chấp, bà sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Hoàng N1 trình bày:

Vào năm 2023, anh có cho vợ chồng anh Đ, chị M vay số tiền 50.000.000 đồng. Đến nay đã trả được 15.000.000 đồng, còn nợ 35.000.000 đồng. Vợ chồng anh Đ, chị M và anh thỏa thuận chị M trả 17.500.000 đồng, anh Đ trả 17.500.000 đồng cho anh. Khi anh Đ và chị M ly hôn, anh yêu cầu được tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh xin được hòa giải và xét xử vắng mặt trong vụ án.

Tại biên bản ghi ý kiến đương sự ngày 14/5/2025, anh Phan Minh D trình bày:

Vợ chồng anh Đ, chị M có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T để cầm cố cho anh 100.000.000 đồng vào ngày 22/5/2022. Thời hạn 03 năm, đến ngày 22/5/2025 hết hạn hợp đồng. Đến nay thời hạn hợp đồng vẫn còn. Khi anh Đ và chị M ly hôn, anh yêu cầu được tự thỏa thuận với anh Đ, chị M và bà T, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Sau này có tranh chấp, anh sẽ khởi kiện thành vụ án dân sự khác. Anh xin được hòa giải và xét xử vắng mặt trong vụ án.

Đối với bà Nguyễn Thị T:

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bà T, nhưng bà T không đến tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và không tham gia phiên tòa xét xử vụ án, cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc anh Đ, chị M có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cầm cố cho anh Phan Minh D hay không và vắng mặt không có lý do, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ lợi ích hợp pháp của mình, nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phan Minh D và anh Hồ Hoàng N1 xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ đi quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

[2] Về nội dung tranh chấp được xác định là tranh chấp ly hôn. Chị Huỳnh Hồng M và anh Nguyễn Văn Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau được thể hiện tại giấy chứng nhận kết hôn số 63/2015, ngày 17/8/2015, nên hôn nhân của chị M và anh Đ được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Chị M cho rằng vợ chồng bất đồng ý kiến, có nhiều mâu thuẫn, cự cãi nhau nhiều lần, gia đình không hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống với nhau; tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Anh Đ thừa nhận vợ chồng cự cãi nhau nhiều lần, không còn chung sống với nhau trong một mái nhà, sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay; vợ chồng có cuộc sống riêng, mạnh ai người ấy sống, không ai quan tâm ai, gia đình không hạnh phúc, nhưng anh Đ không đồng ý yêu cầu xin ly hôn của chị M.

Xét thấy, lời trình bày của chị M và được anh Đ thừa nhận vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng sống ly thân. Điều đó chứng minh, mối quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Hồng M với anh Nguyễn Văn Đ có nhiều mâu thuẫn, đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Hồng M có cơ sở nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: Có một người con tên Nguyễn Kim C, sinh ngày 28/6/2010, đang sống với anh Đ. Khi ly hôn, cháu C có nguyện vọng sống với anh Đ, chị M yêu cầu giao con cho anh Đ nuôi và anh Đ đồng ý nên ghi nhận. Do đó, cần giao cháu C cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi là phù hợp.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị M và anh Đ yêu cầu được tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[6] Về nợ chung:

  • [6.1] Vợ chồng chị M và anh Đ mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T để cầm cố cho anh Phan Minh D 100.000.000 đồng vào ngày 22/5/2022. Khi ly hôn, chị M, anh Đ, anh D yêu cầu được tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Bà Nguyễn Thị T không có ý kiến và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. Trường hợp anh D, bà T có tranh chấp với anh Đ, chị M về giao dịch này thì có quyền khởi kiện chị M, anh Đ để giải quyết trong vụ án dân sự khác.
  • [6.2] Vợ chồng chị M, anh Đ nợ bà Ngô Ánh N 60.500.000 đồng. Khi ly hôn, chị M, anh Đ và bà N yêu cầu được tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. Trường hợp bà N có tranh chấp với anh Đ, chị M về số nợ trên thì có quyền khởi kiện chị M, anh Đ để giải quyết trong vụ án dân sự khác.
  • [6.3] Vợ chồng chị M, anh Đ nợ anh Hồ Hoàng N1 35.000.000 đồng. Khi ly hôn, chị M, anh Đ và anh N1 yêu cầu được tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. Trường hợp anh N1 có tranh chấp với anh Đ, chị M về khoản nợ trên thì có quyền khởi kiện chị M, anh Đ để giải quyết trong vụ án dân sự khác.

[7] Về án phí: Chị Huỳnh Hồng M phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 92, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Hồng M được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.

    - Về con chung: Giao Nguyễn Kim C, sinh ngày 28/6/2010 cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi. Chị Huỳnh Hồng M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Hồng M phải chịu 300.000 đồng. Ngày 21/02/2025, chị Huỳnh Hồng M đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0002687 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau được chuyển thu sung quỹ nhà nước.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Huỳnh Hồng M và bà Ngô Ánh N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Đ, anh Phan Minh D, bà Nguyễn Thị T và anh Hồ Hoàng N1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Cà Mau
  • - VKSND huyện Đầm Dơi; (Đã ký)
  • - UBND xã Thanh Tùng, Đầm Dơi, Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ - án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Nguyễn Văn Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 141/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger