Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28/02/2025

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ toạ phiên toà: Bà Văn Thị Minh Hòa

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Ngọc Đông
  2. Bà Trần Thị Phối

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa- Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phước - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 929/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ D, Sinh năm: 1993

Địa chỉ: 2 N, Tp., Bình Định

Bị đơn : Anh Lê Trần K, Sinh năm: 1987

Địa chỉ: Tổ B, KP H, p. N, Tp ., Bình Định

Tại phiên tòa hôm nay, chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt không có lý do (Toà án đã giao Quyết định hoãn phiên toà hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 15/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn, chị Trần Thị Mỹ D trình bày:

Chị Trần Thị Mỹ D và anh Lê Trần K quen biết và tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 31/5/2021 tại UBND phường N, Tp ., tỉnh Bình Định. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 7/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh K cờ bạc dẫn đến nợ nần, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, chị D nhiều lần phải trả nợ thay cho chồng, chị cùng gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh K vẫn không sửa chữa khuyết điểm của mình. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 5/2024 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa, chị cũng từng làm đơn xin ly hôn nhưng vì thương con còn nhỏ nên rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Sau đó anh K vẫn không thay đổi, nay chị D thấy tình cảm không còn nên xin được ly hôn với anh K để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Trần Hoàng K1, sinh ngày 27/6/2021. Hiện cháu đang sống chung với mẹ, sức khỏe bình thường. Nếu ly hôn, chị D yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa giải quyết.

*Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, bị đơn anh Lê Trần K đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND Tp. Quy Nhơn phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, HĐXX và thư ký chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: đại diện VKSND thành phố Quy Nhơn đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ D và anh Lê Trần K tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 31/5/2021 tại UBND phường N, Tp . nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị D trình bày rằng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian, đến khoảng tháng 7/2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh K cờ bạc, dẫn đến nợ nần, chị phải trả nợ thay cho anh nên kinh tế gia đình gặp khó khăn, chị đã nhiều lần khuyên can và cũng từng làm đơn xin ly hôn 01 lần, sau đó rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, cùng chăm sóc con nhỏ nhưng anh K vẫn không thay đổi, vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay, không ai quan tâm đến nữa. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã động viên, hòa giải nhưng chị D vẫn cương quyết xin ly hôn. Bản thân bị đơn, anh Lê Trần K đã được Toà án triệu tập nhiều lần đến Toà để làm việc nhưng anh không chấp hành, không có thiện chí muốn hàn gắn gia đình. Xét thấy, vào tháng 9/2024, chị D cũng đã từng gửi đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án, sau đó rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng từ đó đến nay vẫn không hàn gắn được tình cảm. Như vậy, mâu thuẫn của vợ chồng chị D, anh K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.

[2] Về con chung: Vợ chồng chị D, anh K có 01 con chung tên Lê Trần Hoàng K1, sinh ngày 27/6/2021, hiện đang sống chung với mẹ, sức khỏe bình thường. Nếu ly hôn, chị D yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu K1 đang còn nhỏ, cần có mẹ chăm sóc nên yêu cầu của chị D là chính đáng, HĐXX chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[4] Về án phí: Chị Trần Thị Mỹ D phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND thành phố Quy Nhơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Áp dụng các Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình;
  • Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên xử :

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ D, chị D được ly hôn anh Lê Trần Kiên .
  2. Về con chung: Chị D, anh K có 01 con chung là cháu Lê Trần Hoàng K1, sinh ngày 27/6/2021.
    1. Việc nuôi con: Giao cho chị Trần Thị Mỹ D được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Lê Trần Hoàng K1.
    2. Việc cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Trần K đến khi các bên có đơn yêu cầu.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không bên nào được ngăn cản.

  1. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu, HĐXX không xem xét.
  2. Về án phí: Chị Trần Thị Mỹ D phải chịu 300.000đ án phí HNGĐST nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000₫ đã nộp theo Biên lai số 0000601 ngày 21/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, chị D đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSNDTP Quy Nhơn ;
  • - CC THADS Tp.Quy Nhơn
  • - UBND p. Ngô Mây, Tp. Quy Nhơn (Giấy CNKH số 40 ngày 31/5/2021)
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ Văn Thị Minh Hòa

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Văn Thị Minh Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 141/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger