|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 6 - 2025
V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trường D
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị V
Bà Nguyễn Thị H
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị H, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoq, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh T - Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2025/QĐ-ST ngày 04/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đào Văn H1 – sinh năm 1988 Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1987
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan( Trung Quốc)
Tại phiên toà, vắng mặt anh H1 có lý do (Có đơn xin xét xử vắng mặt), vắng mặt chị Nguyễn Thị Ngọc A không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2025, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là anh Đào Văn H1 trình bày:
1. Về hôn nhân: Tôi và chị Nguyễn Thị Ngọc A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa ngày 23/11/2012. Sau khi kết hôn, thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng căng thẳng, mệt mỏi, không còn yêu thương lẫn nhau. Mâu thuẫn đỉnh điểm nhất là vào cuối năm 2019, vợ tôi đã đi làm ăn và sinh sống tại Đài Loan, Trung Quốc và không liên lạc gì với tôi. Tôi đã nhiều lần cố gắng tìm cách liên lạc với chị Nguyễn Thị Ngọc A nhưng vẫn không có hồi âm và từ đó đến nay vợ chồng tôi đã sống ly thân nhau. Tôi biết chị Ngọc A vẫn liên lạc với mẹ đẻ của chị ấy (bố đẻ chị Ngọc A đã chết). Vì vậy, tôi liên hệ mẹ đẻ chị Ngọc A hỏi địa chỉ của chị Ngọc A ở nước ngoài nhưng mẹ đẻ chị Ngọc A không cung cấp địa chỉ của chị Ngọc A ở nước ngoài cho tôi. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc A
2. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Đào Ngọc H – Sinh ngày 01/3/2014 . Nếu ly hôn, nguyện vọng của chị là xin được nuôi con và không yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc A phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
3. Về tài sản, công nợ chung: Anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Anh H1 trình bày không biết địa chỉ cụ thể của Chị Ngọc A tại Đài Loan Trung Quốc nên không thể cung cấp cho Tòa án. Chị Ngọc A vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Bùi Thị L, thường trú tại Phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ thím của chị Ngọc A qua bà L.
Tại biên bản xác minh đối với bà Bùi Thị L (là mẹ đẻ chị Ngọc A) trình bày:
Chị Nguyễn Thị Ngọc A là con gái tôi, anh Đào Văn H1 là con rể tôi. Anh H1 và chị Ngọc A tự nguyện tìm hiểu và hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục, có đăng ký kết hôn tịa UBND xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2012. Sau khi cưới thì hai vợ chồng về sinh sống tại huyện Nở cùng với gia đình nhà chồng. Thời gian đầu thì tôi không thấy chị Ngọc A gì về cuộc sống gia đình riêng, về su thì có gọi điện nói với tôi là vợ chồng sông không hạnh phúc. Đến năm 2019 thị chị Ngọc A có nói với tôi là sang Trung Quốc xuất khẩu lao động vừa để tránh cuộc sống ngột ngạt vừa để làm kinh tế. Quá trình ở nước ngoài chị Ngọc A thường xuyên gọi điện cho tôi hỏi thăm sức khoẻ nhưng không nói chính xác địa chỉ làm việc và nơi ở bên Trung Quốc. Chị Ngọc A và anh H1 có 01 con chung là cháu Đào Ngọc H sinh năm 2014 và hiện đang ở với anh H1 tại huyện N. Chuyện vợ chồng giữa anh H1, chị Ngọc A mâu thuẫn thế nào tôi không biết rõ nên việc anh H1 làm đơn xin ly hôn tôi không có ý kiến gì, chuyện tình cảm tự các cháu quyết định. Vào những cuộc điện thoại trước đó Ngọc A có nói với tôi là biết việc anh H1 làm đơn xin ly hôn và chị cũng đồng ý ly hôn, còn công việc làm ăn bên Trung Quốc thì chị chưa biết khi nào về.
Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá có giao cho bà 01 Thông báo về việc thụ lý vụ án và 01 giấy triệu tập và đã giải thích toàn bộ quyền và nghĩa vụ của bà theo quy định của pháp luật. Bà L cam đoan sẽ thông báo lại cho chị Ngọc A toàn bộ nội dung qua đường điện thoại.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các Điều 56; 81; 82;83 Luật Hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đào Văn H1, xử cho anh H1 được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc A. Giao 01 con chung cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ngọc A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Anh Đào Văn H1 là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc A đăng ký hộ khẩu tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang làm việc tại Đài Loan Trung Quốc. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Anh H1 chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị Ngọc A ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của chị Ngọc A tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng cả anh H1 và bà Bùi Thị L là mẹ đẻ của chị Ngọc A đều trình bày không biết địa chỉ cụ thể của chị Ngọc A ở nước ngoài. Tuy nhiên chị Ngọc A vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không cung cấp địa chỉ chính xác của chị hiện nay ở nước ngoài. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa nguyên đơn là anh Đào Văn H1 vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc A mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân:
Anh Đào Văn H1 và chị Nguyễn Thị Ngọc A kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, anh H1 trình bày: Sau khi kết hôn, thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng căng thẳng, mệt mỏi, không còn yêu thương lẫn nhau. Mâu thuẫn đỉnh điểm nhất là vào cuối năm 2019, vợ tôi đã đi làm ăn và sinh sống tại Đài Loan, Trung Quốc và không liên lạc gì với tôi. Tôi đã nhiều lần cố gắng tìm cách liên lạc với chị Nguyễn Thị Ngọc A nhưng vẫn không có hồi âm và từ đó đến nay vợ chồng tôi đã sống ly thân nhau. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh H1 và chị Ngọc A mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho anh Đào Văn H1 được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc A
[2.2]. Về con chung:
Anh chị có 01 con chung là cháu Đào Ngọc H – Sinh ngày 01/3/2014. Nếu ly hôn, nguyện vọng của anh H1 là xin được nuôi con và không yêu cầu chị Ngọc A phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Xét thấy hiện nay cháu Ngọc H đang ở với anh H1, chị Ngọc A đang lao động tại Đài Loan Trung Quốc không thể trực tiếp nuôi con được. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, cần giao cháu Ngọc H cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh H1 tự nguyện không yêu cầu chị Ngọc A cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của anh H1 nên chấp nhận.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung:
anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Chị Ngọc A không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu chị Ngọc A yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3]. Về án phí:
anh H1 là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh H1 đã nộp.
[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đào Văn H1.
- Về hôn nhân: Anh Đào Văn H1 được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc A
- Về con chung: Giao cháu cháu Đào Ngọc H – Sinh ngày 01/3/2014 cho anh Đào Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Ngọc A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh H1.
Chị Nguyễn Thị Ngọc A có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí:
Anh Đào Văn H1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh H1 đã nộp theo Biên lai thu số 0000642 ngày 14/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Anh H1 đã nộp đủ tiền án phí.
3. Quyền kháng cáo:
Anh Đào Văn H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Ngọc A có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 01(một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trường Du |
Bản án số 141/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 141/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
