Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-6-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thu.
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.

- Thư ký phiên toà:

Bà Trà Thị Mỹ Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P:

Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về con chung”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Thị N, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện P, thành phố H. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Công M, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện P, thành phố H. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 5 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Hồ Thị N trình bày:

Chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Công M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, thành phố H vào ngày 13/12/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian, sau đó xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, giữa vợ chồng thường xuyên cải vã. Vợ chồng sống ly thân đã được 01 năm. Hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Công M.

Về con chung: Chị N trình bày quá trình chung sống, chị có sinh 01 người con là Nguyễn Công Trọng T, sinh ngày 20/3/2023; tuy nhiên chị N xác nhận cháu T không phải con ruột của anh M và yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu T cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; chị N không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 05/6/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Công M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh M và chị N quen biết nhau và đi đến kết hôn, tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, thành phố H vào ngày 13/12/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn B, xã V, huyện P, thành phố H. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, không yêu thương, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ nhau. Chị N và anh M đã ly thân được 01 năm. Nhận thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; chị N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh thì anh M đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị N, anh M thì chị N có sinh một người con tên là Nguyễn Công Trọng T, sinh ngày 20/3/2023, nhưng là con của chị N với người đàn ông khác, không phải con của anh. Trên cơ sở kết quả xét nghiệm ADN ngày 02/7/2024 của Viện Công nghệ A và phân tích di truyền - G, anh M yêu cầu Tòa án xác định cháu Nguyễn Công Trọng T không phải là con của anh. Anh M và chị N không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh M xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Công M.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị N có sinh một người con tên là Nguyễn Công Trọng T, sinh ngày 20/3/2023. Tuy nhiên đây là con của chị N với người khác, không phải con của anh M (đã có kết quả xét nghiệm ADN). Chị N và anh M không có con chung nên không yêu cầu cấp dưỡng; đề nghị áp dụng các điều 81, 82,83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Công Trọng T cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi thành niên, anh M không đóng tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N, anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Công M chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Xét về quá trình hôn nhân giữa chị N và anh M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Do đó, chị N và anh M đã sống ly thân được 01 năm, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Như vậy, vợ chồng chị N, anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn với anh M là đúng quy định của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tại phiên tòa.

[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Hồ Thị N có sinh 01 người con là cháu Nguyễn Công Trọng T, sinh ngày 20/3/2023, hiện đang sinh sống cùng chị N.

Mặc dù cháu Nguyễn Công Trọng T sinh ra trong thời kỳ hôn nhân chị N, anh M nhưng căn cứ vào Kết quả xét nghiệm ADN số: 241466GL/ADN ngày 02/7/2024 của Viện Công nghệ A và Phân tích di truyền – Genlab, kết luận: “Nguyễn Công M không có quan hệ huyết thống cha – con với Nguyễn Công Trọng T”, nên có đủ cơ sở xác định ông Nguyễn Công M, sinh ngày 15/8/1997, CCCD số [...] (cấp ngày 02/3/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội), không phải là cha ruột của cháu Nguyễn Công Trọng T, giới tính nam, sinh ngày 20/3/2023, giấy khai sinh số: 93, quyển số: 5, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, thành phố H ngày 26/4/2023. Đồng thời, chị N cũng xác nhận vợ chồng không có con chung nên có thể xác định anh Nguyễn Công M không phải là cha của cháu Nguyễn Công Trọng T.

Do cháu Nguyễn Công Trọng T không phải là con của anh M nên cần giao cho cháu T cho chị N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi. Chị N cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị N, cho chị Hồ Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Công M. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Công M không có con chung; xác định anh Nguyễn Công M không phải là cha của cháu Nguyễn Công Trọng T, sinh ngày 20/3/2023; giao cháu Nguyễn Công Trọng T cho chị Hồ Thị N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi. Chị N không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
  3. Về án phí: Chị Hồ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn; được khấu hết vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002669 ngày 30/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố H;
  • - VKSND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Đương Sự;
  • - UBND xã V, huyện P;
  • (ĐKKH số: 110, ngày 13/12/2022);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về ly hôn, tranh chấp về con chung

  • Số bản án: 141/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị Ngân xin ly hôn Nguyễn Công Mỵ, tranh chấp về con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger