|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 6 - 2025.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Bà Trần Thị Đổi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 406/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 86/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Hữu H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Ông H có đơn xin vắng mặt, bà N vắng mặt không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 03 tháng 4 năm 2025 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn là ông Huỳnh Hữu H trình bày: Ông và bà N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 05/01/2010. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên ông xin ly hôn với bà Ngô Thị N.
Về con chung: Ông bà chung sống có hai con chung tên là Huỳnh Ngọc T, sinh ngày 30/4/2011 và Huỳnh Trọng N1, sinh ngày 28/10/2017. Hai con hiện đang sống với ông. Khi ly hôn, ông H xin được quyền tiếp tục nuôi hai con chung và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông bà chung sống không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông bà chung sống không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bà Ngô Thị N vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Ông Huỳnh Hữu H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Ngô Thị N, bà N hiện thường trú và có mặt tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn là bà Ngô Thị N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Hữu H và bà Ngô Thị Ngọc C sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, số đăng ký kết hôn 04.HT.2010, quyển số 001 ngày 05/01/2010 nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình chung sống, ông H cho rằng do cuộc sống vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn giữa ông bà cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết.
Đối với bà N, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định, biết được yêu cầu khởi kiện của ông H nhưng bà N không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của ông H. Tại phiên tòa, bà N vẫn vắng mặt, chứng tỏ không có thiện chí để hàn gắn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của ông H và bà N là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về con chung và cấp dưỡng: Ông H trình bày, ông và bà N chung sống có hai con chung tên là Huỳnh Ngọc T, sinh ngày 30/4/2011 và Huỳnh Trọng N1, sinh ngày 28/10/2017. Hiện đang sống với ông H. Khi ly hôn, ông H xin được tiếp tục nuôi hai con chung và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với bà N, dù đã được thông báo về yêu cầu của ông H về con chung nhưng bà N vẫn không đến Tòa án và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến gửi Tòa án.
Xét thấy, từ khi ông H và bà N xa nhau đến nay, ông H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ông vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung. Ngoài ra, con chung là Ngọc T trên 07 tuổi có nguyện vọng sống với ông H. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao hai con chung cho ông H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông H không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.
[4]. Về tài sản chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà N không có văn bản phản hồi ý kiến về tài sản chung nên HĐXX không xem xét. Nếu bà N có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
[5]. Về nợ chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà N không có văn bản phản hồi ý kiến về nợ chung nên HĐXX không xem xét. Nếu bà N có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
[6]. Về án phí: Ông Huỳnh Hữu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83, và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Hữu H đối với bà Ngô Thị N về việc “Ly hôn”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Hữu H được ly hôn với bà Ngô Thị N.
- - Về con chung: Ông Huỳnh Hữu H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Ngọc T, sinh ngày 30/4/2011 và Huỳnh Trọng N1, sinh ngày 28/10/2017. Bà Ngô Thị N không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung vì ông H không yêu cầu.
- Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
- Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà N không có văn bản phản hồi ý kiến về tài sản chung nên HĐXX không đề cập, xem xét. Nếu bà N có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
- - Về nợ chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà N không có văn bản phản hồi ý kiến về nợ chung nên HĐXX không đề cập, xem xét. Nếu bà N có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
- Về án phí: Ông Huỳnh Hữu H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Ông H được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí nộp tại biên lai thu số 0006501 ngày 03/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để thi hành.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 141/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 141/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Hữu H ly hôn Ngô Thị N
