|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 6 - 2025
V/v ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hòe và ông Trương Xuân Mâu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Diềm Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 194/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Mỹ H, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
- Bị đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình; hiện đã xuất cảnh sang Đài Loan; vắng mặt.
Thân nhân của anh Đinh Văn T: Bà Cao Thị S, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 26/9/2024, Bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ H và anh Đinh Văn T có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Quảng Bình vào ngày 07/6/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Nhưng đến tháng 4 năm 2023, hai vợ chồng bàn bạc để anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng có liên lạc, vẫn còn tình cảm với nhau. Tuy nhiên, đến khoảng tháng 5 năm 2024, anh T không liên lạc, không quan tâm đến vợ con nên giữa hai vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã và liên lạc ít dần, không ai quan tâm đến ai. Tình trạng vợ chồng lạnh nhạt diễn ra kéo dài và không còn khả năng khắc phục nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đinh Văn T.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung: Đinh Tấn K, sinh ngày 23/5/2013 và Đinh Khánh B, sinh ngày 16/10/2017. Hiện cả hai con đều đang ở với chị H. Nguyện vọng của chị là xin được trực tiếp nuôi hai con vì hiện tại anh T đang ở nước ngoài, không thể trực tiếp chăm sóc con được. Chị yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con 6.000.000 đồng/tháng (mỗi đứa 3.000.000 đồng/tháng) để đảm bảo được cuộc sống tốt nhất cho hai con.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Đinh Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật đối với bị đơn anh Đinh Văn T, tuy nhiên Tòa án không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của anh Đinh Văn T. Sau đó, đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Cao Thị S là mẹ ruột của anh T và bà S cam kết sẽ thông báo cho anh T biết về thời gian mở phiên họp giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thời gian mở phiên tòa. Tại phiên tòa, anh T không có mặt và không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Bà Cao Thị S (mẹ đẻ anh T) trình bày: Anh T1 con đẻ của bà đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ tháng 4 năm 2023 đến nay vẫn chưa trở về nước. Bà có biết về sự việc chị H nộp đơn xin được ly hôn với anh T1 đến Tòa án. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh T1 có liên lạc thường xuyên về cho bà và trình bày rằng anh đồng ý việc ly hôn với chị H, nhưng do điều kiện công việc và khoảng cách địa lý xa xôi nên anh không thể về nước để trực tiếp giải quyết việc ly hôn được. Vợ chồng chị H và anh T1 có 02 con chung là cháu Đinh Tấn K, sinh ngày 23/5/2013 và Đinh Khánh B, sinh ngày 16/10/2017. Hiện tại cả hai cháu đang ở với chị H, được chị nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo và cho ăn học đầy đủ; Về tài sản chung theo bà, anh T1 và chị H không có.
Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về vụ án:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết, xét xử vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị xử cho chị Đinh Thị Mỹ H được ly hôn với anh Đinh Văn T; Về con chung: Giao hai con chung là cháu Đinh Tấn K, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Đinh Khánh B, sinh ngày 16/10/2017 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc. Buộc anh Đinh Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con một đứa từ 2.500.000 đồng - 3.000.000 đồng/tháng; Về tài sản chung và nợ chung, không xem xét; Đương sự phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo Công văn số 2924/CV-QLXNC ngày 17/10/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh Q thì anh Đinh Văn T đã xuất cảnh gần nhất ngày 14/03/2024 qua Sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
[1.2]. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Cao Thị S là mẹ đẻ của bị đơn anh Đinh Văn T. Bà S đã thông báo cho anh T biết về thời gian, địa điểm giải quyết vụ việc ly hôn giữa chị H và anh T. Đồng thời, tiến hành lập biên bản về việc niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh Đinh Văn T tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình.
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã thông báo cho anh Đinh Văn T biết về thời gian, địa điểm giải quyết vụ việc ly hôn giữa chị H và anh T trên Hệ phát thanh đối ngoại quốc gia qua Đ 03 lần trong 03 ngày liên tiếp (ngày 27,28/02; 01/03/2025) nhưng vẫn không nhận được thông tin gì từ anh T.
Tại phiên tòa, bị đơn anh T vắng mặt không có lý do lần thứ hai. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đinh Văn T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ H và anh Đinh Văn T xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/6/2012 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Nhưng đến tháng 4 năm 2024, hai vợ chồng bàn bạc để anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng có liên lạc, vẫn còn tình cảm với nhau. Tuy nhiên, sau đó anh T không liên lạc, không quan tâm nên giữa hai vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã và liên lạc ít dần, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Đinh Thị Mỹ H được ly hôn với anh Đinh Văn T.
[2.2] Về quan hệ con chung: chị Đinh Thị Mỹ H và anh Đinh Văn T có 02 con chung gồm cháu Đinh Tấn K, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Đinh Khánh B, sinh ngày 16/10/2017. Hiện nay các con đang sinh sống với chị H, chị H có nguyện vọng xin được nuôi cả hai đứa con. Cháu Đinh Tấn K và Đinh Khánh B đều có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao cháu Đinh Tấn K, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Đinh Khánh B, sinh ngày 16/10/2017 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Tại phiên tòa chị H yêu cầu anh Đinh Văn T cấp dưỡng tiền nuôi con cháu đầu (Đinh Tấn K) 3.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu của chị H là chính đáng, tuy nhiên anh T không có mặt tại phiên tòa, hơn nữa mức cấp dưỡng thì cần phải xem xét lại. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì “...Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nữa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú...”, theo Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng tại huyện M, tỉnh Quảng Bình thuộc vùng IV, mức lương là 3.450.000 đồng/tháng. Do đó, cần xem xét buộc anh T đóng góp cấp dưỡng tiền nuôi con đối với cháu Đinh Tấn K mỗi tháng 2.000.000 đồng là phù hợp.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung:
Chị Đinh Thị Mỹ H và anh Đinh Văn T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí, chi phí tố tụng:
Chị Đinh Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; Anh Đinh Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con;
Về chi phí đăng thông tin trên VOV5: Chị Đinh Thị Mỹ H phải chịu 2.250.000 đồng (chị H đã nộp đủ tại Tòa án).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 161, Điều 162; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị Mỹ H được ly hôn với anh Đinh Văn T.
2. Về quan hệ con chung: Giao hai cháu Đinh Tấn K, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Đinh Khánh B, sinh ngày 16/10/2017 cho chị Đinh Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Buộc anh Đinh Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung Đinh Tấn K mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi cháu K trưởng thành 18 tuổi.
Không ai được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các đương sự đều có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí, chi phí tố tụng:
Chị Đinh Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0005100 ngày 17/10/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình;
Anh Đinh Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Về chi phí đăng thông tin trên VOV5: Chị Đinh Thị Mỹ H phải chịu 2.250.000 đồng (chị H đã nộp đủ tại Tòa án).
5. Án xử sơ thẩm công khai, chị Đinh Thị Mỹ H có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/6/2025); anh Đinh Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thái Sơn |
Bản án số 141/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 141/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh T
