Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08 - 4 - 2025

“V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lam;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo;

Bà Nguyễn Thị Quế Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 524/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vương Xuân G, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm L, xã H (nay là xã P), huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm L, xã H (nay là xã P), huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm D, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Vương Xuân G trình bày:

1

Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào ngày 01 tháng 3 năm 2012. Năm 2019 chị T đã xuất cảnh đến Đài Loan để lao động. Do khoảng cách về địa lý thời gian đầu chị T đang quan tâm đến chồng con, sau thưa dần và nay không quan tâm đến gia đình nữa nên đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được mặc dù có liên lạc về với bố, mẹ đẻ của chị ấy. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài nay anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung gồm: Vương Hồng N, sinh ngày 26/12/2012; Vương Thế C, sinh ngày 26/7/2017; các con chung không ai bị nhược điểm về thể chất, tâm thần. Hiện nay các cháu N và C đang do anh trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn anh đề nghị Tòa án giao các con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị T: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú hiện nay của bị đơn.

Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu do nguyên đơn giao nộp cho chị T thông qua bố đẻ của chị ấy là ông Nguyễn Văn T1, ông T1 đã thông báo cho chị T biết nội dung, phạm vi khởi kiện của nguyên đơn thông qua mạng xã hội nhưng chị ấy vẫn không giao nộp tài liệu và trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án đã thu thập tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của nguyên đơn, lấy lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn T1. Ông T1 trình bày

Ông là bố đẻ của chị Nguyễn Thị T, về quan hệ hôn nhân, con chung giữa anh G và chị T đúng như anh G trình bày. Sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án và bản sao các tài liệu do nguyên đơn nộp cho Tòa án ông đã thông báo cho chị T biết nội dung các văn bản đó thông qua nền tảng mạng xã hội nhưng không cho ông biết địa chỉ cụ thể của chị T do đó không có căn cứ để cung cấp cho Tòa án và chị ấy cũng không trình bày ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để gửi về Việt Nam. Thông qua ông thì chị T đồng ý với nội dung và phạm vi khởi kiện của anh G và chị T đề nghị xét xử vắng mặt.

Bản tự khai của các cháu Vương Hồng N, sinh ngày 26/12/2012 và Vương Thế C, sinh ngày 26/7/2017 trình bày:

2

Các cháu là con chung của nguyên đơn và bị đơn, nếu bố, mẹ ly hôn thì các cháu đều lựa chọn nguyên đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự theo quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng. Việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và người làm chứng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 77 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về việc mở phiên tòa lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn không chấp hành, vì vậy vụ án được xét xử theo thủ tục chung.

Về nội dung: Xét thấy anh Vương Xuân G và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 01/3/2012 tại UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp. Năm 2019 chị T xuất khẩu lao động ra nước ngoài thời gian đầu chị ấy còn liên lạc với gia đình sau đó thiếu quan tâm, chăm sóc gia đình cho nên mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh. Nay nguyên đơn không còn tình cảm với bị đơn, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho anh Vương Xuân G ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: Hai cháu Vương Hồng N, sinh ngày 26/12/2012; Vương Thế C, sinh ngày 26/7/2017 là con chung của nguyên đơn và bị đơn. Xét hoàn cảnh thực tế thì hiện nay chị Nguyễn Thị T đang sống và làm việc ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể; để đảm bảo quyền lợi cho con chung, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và nguyện vọng của các cháu, đề nghị HĐXX giao 02 con chung cho anh Vương Xuân G trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí: Buộc nguyên đơn anh Vương Xuân G phải chịu nghĩa vụ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 BLTTDS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Nguyễn Thị T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh tại xóm L, xã H (nay là P), huyện Y, tỉnh Nghệ An. Văn bản số 1452/QLXNC-P3 ngày 17/01/2025 của Cục Q, Bộ C2 cho biết, chị Nguyễn Thị T đã xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay N1 lần cuối là ngày 02/11/2022 đến nay chưa nhập cảnh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt, Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ và tiến hành xác minh, lấy lời khai của người làm theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng không có kết quả. Chị T đã được bố của mình thông báo nội dung và phạm vi khởi kiện của nguyên đơn mà Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết. Mặc dù chị T vẫn thường xuyên liên lạc thông qua nền tảng mạng xã hội với ông T1 và biết được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không thực hiện theo Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án; nên đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu chứng cứ. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bằng phương thức niêm yết tại nơi cư trú nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì phiên tòa.

[3] Nội dung vụ án: Đánh giá lời khai của nguyên đơn, người làm chứng và các tài liệu có tại hồ sơ Hội đồng xét xử có căn cứ để khẳng định:

[3.1]. Quan hệ hôn nhân:

Tại thời điểm kết hôn anh G và chị T đủ điều kiện kết hôn theo luật định, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01/3/2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Năm 2019 chị T xuất cảnh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam từ đó giữa anh G và chị T phát sinh mâu thuẫn dẫn đến không quan tâm lẫn nhau cho thấy nguyên đơn và bị đơn đã vi phạm vào khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Nay, nguyên đơn không còn tình cảm với bị đơn, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Vương Xuân G được ly hôn với chị Nguyễn Thị T theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.

4

[3.2]. Con chung: Cháu Vương Hồng N và Vương Thế C là con chung của nguyên đơn và bị đơn, hiện nay đang do nguyên đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn đang sinh sống, lao động ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và ý chí nguyện vọng của cháu N, cháu C vậy nên cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình giao các con chung nói trên cho anh Vương Xuân G trực tiếp nuôi dưỡng, không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

[3.3] Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, bị đơn không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu nghĩa vụ án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 19; Các Điều 51, 56, 58, 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Vương Xuân G được ly hôn bị đơn chị Nguyễn Thị T.

2. Về con chung: Giao các con chung là Vương Hồng N, sinh ngày 26/12/2012 và Vương Thế C, sinh ngày 26/7/2017 cho anh Vương Xuân G trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.

Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom con chung để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án dân sự độc lập khác.

5

3. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí: Buộc anh Vương Xuân G phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị C1 đã nộp thay theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013448 ngày 12/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn một tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Phú Thành, h.Yên Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Lam

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 141/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger