|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 141/2025/DS-PT Ngày: 19 - 02 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những, Ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Vào ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 684/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 721/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Vĩnh Đ, sinh năm 1978.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1957.
- Bà Bùi Thị P, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Ấp C xã L huyện C tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Vĩnh Đ: Bà Dương Đoàn Mỹ H, sinh năm 2001. ĐKTT: ấp G xã T huyện G tỉnh Tiền Giang. Địa chỉ liên hệ: Số F, Quốc lộ E, khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An (theo văn bản ủy quyền ngày 22/02/2024).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Người kháng cáo: (Ông Nguyễn Văn V
(Ông V, bà P có mặt; bà H có đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/3/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Vĩnh Đ có người đại diện theo ủy quyền là bà Dương Đoàn Mỹ H trình bày:
Bà được ông Trần Vĩnh Đ ủy quyền tham gia tố tụng và được toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan trong vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Nguyễn Văn V và bà Bùi Thị P.
Vào ngày 04/11/2022 vợ chồng bà P, ông V có vay tiền của ông Trần Vĩnh Đ số tiền 400.000.000 đồng, khi vay có làm Giấy thỏa thuận vay tiền nội dung vợ chồng bà P, ông V có vay của ông Đ số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 2,5%/tháng, thời hạn vay là 12 tháng, tiền lãi trả hàng tháng. Khi vay bà P, ông V có đưa bản chính giấy CN QSD số AC 295268 đối với thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 4, diện tích 738m², loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp C xã L huyện C (bên ông Đ không có quản lý, sử dụng thửa đất này) cho ông Đ giữ, trên thửa đất 3018 không có nhà cửa, công trình xây dựng gì (trong giấy thể hiện nội dung “trên phần đất đã có căn nhà kiên cố đã tọa lạc sẵn” là do ông Đ nhầm với 01 thửa đất khác của ông V, bà P, trên thửa đất khác này mới có nhà cửa kiên cố). Trong giấy tay này có chữ ký và lăn tay của bà P, ông V.
Ông Đ đã giao cho bà P, ông V số tiền 400.000.000 đồng cùng ngày làm giấy tay.
Các bên cũng có thỏa thuận nếu bà P, ông V không trả lãi trong 3 tháng đầu thì bên ông Đ sẽ làm thủ tục đăng bộ sang tên, nếu 03 tháng tiếp theo không trả nữa căn nhà trên đất sẽ thuộc về ông Đ.
Sau khi vay bà P, ông V không có trả tiền lãi cho ông Đ. Đến hạn trả nợ cũng không thực hiện.
Do đó ông Trần Vĩnh Đ khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn V và bà Bùi Thị P có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền vay 400.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 04/11/2022 đến ngày 19/7/2024 là 136.600.000 đồng (lãi suất 20%/năm) và tiền lãi đến khi xét xử.
Hiện bản chính giấy CN QSD số AC 295268 đối với thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 4, diện tích 738m², loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện C do ông Nguyễn Văn V đứng tên ông Đ đang giữ ở nhà, không có thế chấp hay cầm cố cho ai. Sau khi bà P, ông V trả xong tiền cho ông Đ, ông Đ sẽ trả lại bản chính giấy CN QSD đất cho bà P, ông V.
Số tiền ông Đ cho bà P, ông V vay là tiền riêng của ông Đ, không phải là tiền chung của vợ chồng.
Bị đơn ông Nguyễn Văn V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm, không có lời trình bày.
Bị đơn bà Bùi Thị P trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn và hiện hôn nhân vẫn còn tồn tại. Hiện tại ông V đi làm ăn xa, khoảng 3 tháng về nhà một lần.
Vào ngày 04/11/2022 vợ chồng bà có vay tiền của ông Trần Vĩnh Đ theo như lời của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày. Vợ chồng bà có nhận đủ số tiền 400.000.000 đồng cùng ngày làm giấy tay, vợ chồng bà vay tiền của ông Đ để cho vợ chồng người em của ông V mượn lại.
Sau khi vay vợ chồng bà có trả tiền lãi đến tháng 9/2023 thì ngưng, trả lãi hàng tháng, mỗi tháng số tiền 10.000.000 đồng, khi trả không có làm giấy tờ biên nhận gì. Do điều kiện làm ăn khó khăn, từ tháng 10/2023 vợ chồng bà không có tiền trả lãi cho ông Đ và để kéo dài cho đến nay.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà có ý kiến: bà thừa nhận vợ chồng bà còn nợ ông Đ số tiền 400.000.000 đồng nhưng xin khi nào bán đất được sẽ trả cho ông Đ, còn tiền lãi xin không trả do hiện hoàn cảnh khó khăn, đối với số tiền lãi đã trả là do các bên tự nguyện thỏa thuận, bà không yêu cầu điều tiết lại. Hiện thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 4, diện tích 738m², loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp C xã L vẫn do vợ chồng bà quản lý, sử dụng. Khi nào vợ chồng bà trả xong tiền cho ông Đ, bà yêu cầu ông Đ trả lại bản chính giấy CN QSD số AC 295268 đối với thửa đất số 3018 cho vợ chồng bà.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn V biết Tòa án có thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay theo đơn khởi kiện của ông Trần Vĩnh Đ nhưng ông V vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án về việc khởi kiện của ông Đ.
Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng ông V vắng mặt. Tòa án nhân dân huyện Cần Đước đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa bà D Đoàn Mỹ H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện cụ thể yêu cầu tính lãi từ ngày 04/11/2022 đến ngày 04/11/2023 với mức lãi suất 20%/năm trên số tiền gốc 400.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 05/11/2023 đến ngày 30/8/2024 với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền gốc 400.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228, 266, 267, 271, 273, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Vĩnh Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Văn V và bà Bùi Thị P.
Buộc ông Nguyễn Văn V và bà Bùi Thị P có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ông Trần Vĩnh Đ số tiền vay 400.000.000 đồng và tiền lãi 112.647.000 đồng (tính đến ngày 30/8/2024) theo Giấy thỏa thuận ngày 04/11/2022, tổng cộng 512.647.000 đồng (năm trăm mười hai triệu, sáu trăm bốn mươi bảy ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Buộc ông Trần Vĩnh Đ có trách nhiệm hoàn trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 295268 do UBND huyện C cấp ngày 27/5/2005 đối với thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 4, diện tích 738m², loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện C cho ông Nguyễn Văn V.
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: 4.200.000 đồng, ông Trần Vĩnh Đ chịu và nộp xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị P được miễn án phí theo quy định. Buộc ông Nguyễn Văn V phải nộp 12.253.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Trần Vĩnh Đ số tiền 12.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0010461 ngày 17/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.
Ngày 04/10/2024, ông Nguyễn Văn V kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng ông chỉ trả số tiền nợ gốc 400.000.000 đồng cho ông Đ khi bán được đất, ông không đồng ý trả tiền lãi vì hoàn cảnh kinh tế gia đình ông đang gặp khó khăn và xin miễn tiền án phí.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn V trình bày: Ông thừa nhận có vay của nguyên đơn số tiền 400.000.000 đồng, ông đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 400.000.000 đồng khi ông bán được đất, ông không đồng ý trả tiền lãi vì hoàn cảnh kinh tế gia đình ông đang gặp khó khăn và xin miễn tiền án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông.
Bà Bùi Thị P trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của ông V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:
- - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Quan điểm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn V:
Ngày 24/09/2024 ông Nguyễn Văn V có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho ông V trả lại tiền gốc khi bán được đất. Không đồng ý trả lãi do khó khăn.
Ông Trần Vĩnh Đ khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn V và bà Bùi Thị P có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền vay 400.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 04/11/2022 đến ngày Tòa án xét xử. Xét thấy:
Đối với số tiền gốc vay 400.000.000 đồng: vào ngày 04/11/2022, ông Đ có cho ông V và bà P vay số tiền 400.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tay, thời gian vay 12 tháng, ông Đ có giao cho ông V, bà P số tiền trên, lãi suất thỏa thuận 2,5%/tháng. Khi vay ông V và bà P có đưa cho ông Đ giữ bản chính giấy CN QSD số AC 295268 đối với thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 4, diện tích 738m², loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp C xã L huyện C do ông Nguyễn Văn V đứng tên. Bà P thừa nhận có vay và có nhận của ông Đ số tiền 400.000.000 đồng. Trước yêu cầu khởi kiện của ông Đ thì bà P cũng thừa nhận vợ chồng bà còn nợ và đồng ý hoàn trả cho ông Đ số tiền gốc 400.000.000 đồng nhưng xin khi nào bán được đất sẽ trả vì hiện tại không có khả năng.
Về tiền lãi: ông Trần Vĩnh Đ yêu cầu tính lãi từ ngày 04/11/2022 đến ngày 04/11/2023 với mức lãi suất 20%/năm trên số tiền gốc 400.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 05/11/2023 đến ngày 30/8/2024 với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền gốc 400.000.000 đồng.
Căn cứ vào giấy vay tiền ngày 04/11/2022 xác định hợp đồng vay giữa ông Đ và ông V, bà P là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi, mức lãi trong hợp đồng là 2,5%/tháng.
Ông Đ trình bày từ khi vay cho đến nay, bà P và ông V không có trả tiền lãi. Bà P trình bày sau khi vay vợ chồng bà có trả tiền lãi đến tháng 9/2023 thì ngưng, trả lãi hàng tháng, mỗi tháng số tiền 10.000.000 đồng, khi trả không có làm giấy tờ biên bản gì. Lời trình bày này của bà P, ông Đ không thừa nhận và ngoài lời trình bày, bà P không cung cấp chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình do đó lời trình bày của bà P là không có căn cứ.
Căn cứ khoản 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự quy định, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm:
Tiền lãi từ ngày 04/11/2022 đến ngày 04/11/2023: 400.000.000 đồng x 12 tháng x 20%/năm = 80.000.000 đồng.
Tiền lãi từ ngày 05/11/2023 đến ngày 30/8/2024: 400.000.000 đồng x 09 tháng 25 ngày x 10%/năm = 32.647.000 đồng
Tổng cộng số tiền lãi: 112.647.000 đồng
Do đó, Bản án sơ thẩm buộc bà P và ông V có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ông Đ số tiền gốc 400.000.000 đồng, tiền lãi 112.647.000 đồng, tổng cộng số tiền 512.647.000 đồng là phù hợp.
Ông V thuộc đối tượng được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án và có đơn xin miễn án phí.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn V. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn V thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn: Ông Trần Vĩnh Đ, bà Dương Đoàn Mỹ H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- [3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn V, thấy rằng:
- [3.1] Ông Trần Vĩnh Đ khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn V và bà Bùi Thị P có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền vay 400.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 04/11/2022 đến ngày Tòa án xét xử, xét thấy:
- [3.2] Về tiền lãi:
- [3.3] Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 04/11/2022 và sự thừa nhận của các đương sự buộc bà P và ông V có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ông Đ số tiền gốc 400.000.000 đồng, tiền lãi 112.647.000 đồng, tổng cộng số tiền 512.647.000 đồng là có căn cứ.
- [4] Đối với giấy CN QSD đất số AC 295268 do UBND huyện C cấp ngày 27/5/2005 đối với thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 4, diện tích 738m², loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp C xã L huyện C cho ông Nguyễn Văn V. Ông Đ đồng ý hoàn trả bản chính giấy CN QSD đất trên cho ông V, bà P khi ông V, bà P hoàn trả xong khoản tiền cho ông V.
- [5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [6] Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng ở Tòa án cấp sơ thẩm: 4.200.000 đồng, ông Trần Vĩnh Đ chịu và nộp xong.
- [7] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- [8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho ông Nguyễn Văn V án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Đối với số tiền gốc vay 400.000.000 đồng: Vào ngày 04/11/2022, ông Đ có cho ông V và bà P vay số tiền 400.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tay, thời gian vay 12 tháng, ông Đ có giao cho ông V, bà P số tiền trên, lãi suất thỏa thuận 2,5%/tháng. Khi vay ông V và bà P có đưa cho ông Đ giữ bản chính giấy CN QSD số AC 295268 đối với thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 4, diện tích 738m², loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp C xã L huyện C do ông Nguyễn Văn V đứng tên. Bà P thừa nhận có vay và có nhận của ông Đ số tiền 400.000.000 đồng. Trước yêu cầu khởi kiện của ông Đ thì bà P cũng thừa nhận vợ chồng bà còn nợ và đồng ý hoàn trả cho ông Đ số tiền gốc 400.000.000 đồng nhưng xin khi nào bán được đất sẽ trả vì hiện tại không có khả năng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông V cũng thừa nhận có vay của ông Đ số tiền 400.000.000 đồng. Do đó có đủ căn cứ xác định ông Đ có cho ông V và bà P vay số tiền 400.000.000 đồng nên phải có nghĩa vụ trả cho ông Đ số tiền vay.
Ông Trần Vĩnh Đ yêu cầu tính lãi từ ngày 04/11/2022 đến ngày 04/11/2023 với mức lãi suất 20%/năm trên số tiền gốc 400.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 05/11/2023 đến ngày 30/8/2024 với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền gốc 400.000.000 đồng. Xét thấy:
Căn cứ vào giấy vay tiền ngày 04/11/2022 xác định hợp đồng vay giữa ông Đ và ông V, bà P là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi, mức lãi trong hợp đồng là 2,5%/tháng.
Ông Đ trình bày từ khi vay cho đến nay, bà P và ông V không có trả tiền lãi. Bà P trình bày sau khi vay vợ chồng bà có trả tiền lãi đến tháng 9/2023 thì ngưng, trả lãi hàng tháng, mỗi tháng số tiền 10.000.000 đồng, khi trả không có làm giấy tờ biên bản gì. Lời trình bày này của bà P, ông Đ không thừa nhận và ngoài lời trình bày, bà P không cung cấp chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình do đó xét thấy lời trình bày của bà P là không có căn cứ.
Căn cứ khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”
Điều 468 Bộ luật dân sự quy định: “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. 2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm “Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;”
Tiền lãi của ông Đ được tính như sau:
Tiền lãi từ ngày 04/11/2022 đến ngày 04/11/2023: 400.000.000 đồng x 12 tháng x 20%/năm = 80.000.000 đồng.
Tiền lãi từ ngày 05/11/2023 đến ngày 30/8/2024: 400.000.000 đồng x 09 tháng 25 ngày x 10%/năm = 32.647.000 đồng
Tổng cộng số tiền lãi: 112.647.000 đồng
Ông V kháng cáo đồng ý trả cho ông Đ số tiền gốc 400.000.000 đồng nhưng xin khi nào bán được đất và xin không trả tiền lãi là không có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo của ông V.
Xét thấy: Ông V, bà P chỉ đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ giữ để làm tin, giữa ông Đ với ông V, bà P không có làm hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật, không đăng thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C. Việc ông Đ giữ bản chính giấy chứng nhận của ông V, bà P là không đúng quy định pháp luật, cản trở việc thực hiện quyền của người sử dụng đất được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông Đ trình bày tự nguyện trả lại bản chính giấy CN QSD đất số AC 295268 cho ông V, bà P khi bản án có hiệu lực là phù hợp.
Tòa án cấp sơ thẩm miễn án phí cho bà Bùi Thị P do bà P là người cao tuổi.
Buộc ông Nguyễn Văn V phải chịu 12.253.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm, ông V vắng mặt không có lý do và không có đơn xin miễn án phí nne6 Tòa án buộc ông V phải chịu án phí là đúng quy định.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông V là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông V xin miên án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn V.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228, 266, 267, 271, 273, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Vĩnh Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Văn V và bà Bùi Thị P.
- Buộc ông Nguyễn Văn V và bà Bùi Thị P có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ông Trần Vĩnh Đ số tiền vay 400.000.000 đồng và tiền lãi 112.647.000 đồng (tính đến ngày 30/8/2024) theo Giấy thỏa thuận ngày 04/11/2022, tổng cộng 512.647.000 đồng (năm trăm mười hai triệu, sáu trăm bốn mươi bảy ngàn đồng).
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- Buộc ông Trần Vĩnh Đ có trách nhiệm hoàn trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 295268 do UBND huyện C cấp ngày 27/5/2005 đối với thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 4, diện tích 738m², loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An cho ông Nguyễn Văn V.
- Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng ở Tòa án cấp sơ thẩm: 4.200.000 đồng, ông Trần Vĩnh Đ chịu và nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn cho ông Nguyễn Văn V và bà Bùi Thị P án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Hoàn trả cho ông Trần Vĩnh Đ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 12.000.000 đồng theo biên lai thu số 0010461 ngày 17/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho ông Nguyễn Văn V án phí dân sự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 141/2025/DS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 141/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
