TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 141 /2024/HS-ST Ngày: 03/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Đạt
Ông Trương Công Tráng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Quỳnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trực tuyến trụ sở Tòa án nhân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Thị L ( tên gọi khác: Không ), sinh ngày 30 tháng 01 năm 1996; tại: Thái Bình;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : Xóm H, thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn T và bà Phan Thị M Có chồng: Ngô Gia H ( đã ly hôn ) và có 03 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ theo biên bản bắt người phạm tội quả tang từ ngày 06/01/2024, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2, Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Anh Trịnh Đắc C, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm D, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Chị Ngô Thị T2, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 ngày 05/01/2024, Vũ Thị L đang ở nhà tại N – LK21, khu đất dịch vụ V, phường V, quận H, TP Hà Nội nhận được tin nhắn từ tài khoản zalo “minh tiên” của Nguyễn Xuân T1 (Sinh năm: 1987, trú tại: tổ A, Đ, H, Hà Nội) nhắn đến tài khoản zalo “Hồ Ly” của L hỏi mua của L 500.000 đồng ma túy đá. L đồng ý và hẹn T1 gặp nhau vào trưa ngày 06/01/2024 để giao dịch. Khoảng 09 giờ 30 ngày 06/01/2024, L nhắn tin zalo cho Ngô Văn Đ (Sinh năm 1978, Nơi ĐKTT: Thôn T, L, H, Hà Nội) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Đ đồng ý bảo L chuyển tiền vào số tài khoản 979868999999 ngân hàng TMCP Q1 (M1) của Trịnh Đắc C (Sinh năm 1991, Nơi ĐKTT: Xóm D, Đ, Đ, H, Hà Nội). Sau đó, L nhắn tin cho T1 bảo T1 chuyển tiền 500.000 đồng vào số tài khoản 103874045749 ngân hàng TMCP C1 (V) của L để mua ma túy và bảo T1 đi đến quán nước của L ở khu đất dịch vụ V, H chờ. T1 đồng ý chuyển khoản cho L. Sau khi nhận được tiền chuyển khoản L tiếp tục chuyển khoản 500.000 đồng đến tài khoản của C rồi báo lại cho Đ. Một lúc sau, Đ gọi cho L nói không mua được mua túy và bảo L đi đến nhà Đ ở thôn T, L, H, Hà Nội để lấy lại tiền. L đồng ý điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát (BKS): 33P2 – 2895 đi đến gần nhà Đ, L gọi cho Đ đi ra ngoài, rồi xóa toàn bộ tin nhắn trong zalo. Lúc này Đ đi từ nhà ra chỗ L đợi trả Ly 500.000 đồng. L cầm tiền ra về rồi tiếp tục đi tìm mua ma túy bán cho T1. Khi đi đến phố N, phường V, H, Hà Nội, L gặp và hỏi mua được của một người nam giới mặc áo G ngồi trên xe máy dựng ở vỉa hè 500.000 đồng ma túy đá đựng trong 01 bao thuốc lá màu vàng bên trong có 01 túi nilon dán băng dính màu đen. Mua được ma túy, Ly đi về quán nước thấy T1 đang ngồi đợi L. L đi ra đối diện số nhà F – LK60, khu đất dịch vụ V để bao thuốc lá chứa ma túy đá xuống đất rồi gọi T1 ra chỉ chỗ để T1 lấy ma túy. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi L đang đứng đợi T1 đi ra lấy ma túy thì Tổ công tác công an phường V phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H trong quá trình làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ dưới mặt đất cạnh chỗ L đang đứng 01 bao thuốc lá màu vàng bên trong có 01 túi nilon kích thước (1,5x02)cm dán băng dính đen bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, Vũ Thị Ly k nhận 01 bao thuốc lá màu vàng bên trong có 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp dạng đá đang mang ma túy bán trái phép cho T1. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng, đưa về trụ sở làm rõ (Bút lục 22 – 29).
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Vũ Thị L:
+ 01 bao thuốc lá màu vàng bên trong có 01 túi nilon kích thước (1,5x02)cm dán băng dính đen bên trong chứa tinh thể màu trắng.
+ 01 xe mô tô Honda Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát: 33P2 - 2895;
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu trắng hồng, đã qua sử dụng;
- Thu giữ của Nguyễn Xuân T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, đã qua sử dụng;
- Thu giữ của Ngô Văn Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng;
Ngày 07/01/2024, Cơ quan điều tra ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Thị L tại NO6B – LK21, khu đất dịch vụ V, phường V, quận H, TP Hà Nội; khám xét khẩn cần nơi ở của Ngô Văn Đ tại Thôn T, L, H, Hà Nội, kết quả: Không thu giữ gì (Bút lục: 47 – 50).
Tại Bản kết luận giám định số 468/KL-KTHS ngày 13/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận (Bút lục 37):
“Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,177 gam”.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: Vũ Thị Ly khai mua của người nam giới không quen biết tại khu vực phố N, V, H, Hà Nội. Ngoài lời khai của L không có tài liệu nào chứng minh nên không có cơ sở làm rõ xử lý.
Đối với Nguyễn Xuân T1 là người mua ma túy của Vũ Thị L, do T1 chưa nhận được ma túy của L và kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng que thử cho kết quả âm tính, vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận H không đề cập xử lý đối với T1.
Ngô Văn Đ là người Ly gọi điện hỏi mua ma túy. Đ đã gọi điện cho Trịnh Đắc C để nhờ mua ma túy nhưng không mua được. Sau đó Đ đã trả lại 500.000 đồng tiền L chuyển khoản để mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Đ.
Đối với Trịnh Đắc C là người mà Ngô Văn Đ gọi điện để nhờ mua hộ ma túy và nhận được tiền chuyển khoản 500.000 đồng của L chuyển đến. C không biết chỗ mua ma túy nên đã chuyển khoản trả tiền 500.000 đồng đến số tài khoản 0965974723 ngân hàng M1 của Đ. Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng ngày 06/01/2024 của C và Đ phù hợp với thông tin chuyển khoản, nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận H không đề cập xử lý đối với C.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 33P2-2895, Số máy: 5319243; Số khung: 219152, Vũ Thị Ly k nhận chiếc xe mượn của chị Ngô Thị T2. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe đăng ký tên anh Kiều Văn Q (Sinh năm 1983, KKTT: C, T, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, anh Q trình bày: chiếc xe của anh mua từ năm 2007 đăng ký tên chính chủ sử dụng đến năm 2021 bán lại cho chị Ngô Thị T2 (Sinh năm 1984, HKTT: Tổ dân phố Q, V, H, Hà Nội), khi mua bán xe hai bên không làm giấy tờ gì. Tại Cơ quan điều tra, chị T2 trình bày: ngày 06/01/2024, chị T2 cho L mượn chiếc xe làm phương tiện đi lại, việc L sử dụng xe đi mua bán trái phép chất ma túy chị T2 không biết; chị T2 mua lại xe nhưng không có giấy tờ mua bán nên Cơ quan điều tra đã chuyển chiếc xe máy trên theo hồ sơ vụ án để xử lý theo quy định pháp luật.
Trước Cơ quan điều tra, Vũ Thị Ly k nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại bản cáo trạng số 87/2024/CT-VKS-HĐ ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Vũ Thị L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Vũ Thị L đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vũ Thị L như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị L từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
01 ( một ) phong bì dán kín các mép dán có chữ ký của đối tượng Vũ Thị L, cán bộ công an phường V và giám định viên Nguyễn Hoàng H1.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu trắng hồng, đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị L.
Trả lại:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, đã qua sử dụng thu giữ của anh Nguyễn Xuân T1.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng thu giữ của anh Ngô Văn Đ.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát: 33P2 – 2895 thu giữ của Vũ Thị L sau thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo đầu tiên mà không có ai nhận là chủ sở hữu thì trả lại cho chị Ngô Thị T2.
Bị cáo Vũ Thị L không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân quận H trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,bị cáo Vũ Thị L không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Thị L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 ngày 06/01/2024, tại đối diện số nhà F – LK60, khu đất dịch vụ V, phường V, H, Hà Nội, Vũ Thị L có hành vi mua để bán trái phép 01 túi nilon ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,177 gam cho Nguyễn Xuân T1 (Sinh năm: 1987, HKTT: Tổ 11, Đ, H, Hà Nội) nhưng chưa kịp giao cho T1 thì bị Tổ công tác công an phường V phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Vũ Thị L đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Vũ Thị L theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm hủy hoại sức khỏe con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và còn là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Thị L không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Vũ Thị L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu do đó bị cáo đủ điều kiện hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[6]. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Vũ Thị L là người đã trưởng thành, có sức khỏe, biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, nhưng vẫn cố tình mua bán trái phép ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Do vậy, cần phải được xử lý nghiêm khắc trước pháp luật cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 của Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[8]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo xét đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu trắng hồng, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Vũ Thị L xét đây là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, đã qua sử dụng thu giữa của Nguyễn Xuân T1, xét do T1 chưa nhận ma tuý của L nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H không đề cập xử lý đối với T1 nên cần trả lại T1 chiếc điện thoại này.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng thu giữ của Ngô Văn Đ xét do khi L gọi điện cho Đ hỏi mua ma tuý, sau khi không hỏi được Đ đã trả lại Ly tiền nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H không đề cập xử lý đối với Đ, do vậy cần trả lại Đ chiếc điện thoại này.
- Đối với 01 xe mô tô Honda Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát: 33P2 – 2895 thu giữ của Vũ Thị L thì sau thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo đầu tiên mà không có ai nhận là chủ sở hữu thì trả lại cho chị Ngô Thị T2.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
Bị cáo Vũ Thị L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251 ; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 .
Xử phạt: Vũ Thị L 25 ( hai mươi lăm ) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bắt người phạm tội quả tang là ngày 06/01/2024.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 ; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
01 ( một ) phong bì dán kín các mép dán có chữ ký của đối tượng Vũ Thị L, cán bộ công an phường V và giám định viên Nguyễn Hoàng H1.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu trắng hồng lắp sim số 0565092971, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Vũ Thị L.
Trả lại:
Trả lại anh Nguyễn Xuân T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng lắp sim số 0366660951, đã qua sử dụng.
Trả lại anh Ngô Văn Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0965974723 đã qua sử dụng .
Tiếp tục đăng báo trong thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo đầu tiên là ngày 27/01/2024 nếu không ai nhận là chủ sở hữu chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát: 33P2 – 2895 thì trả lại cho chị Ngô Thị T2.
( Tất cả vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ).
Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Thủy |
Bản án số 141 /2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 141 /2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Thị L
