|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 141/2024/HS-ST Ngày 21-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Khanh.
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 và các quyết định hoãn phiên toà đối với các bị cáo:
1. Đỗ Đức M; sinh ngày 03 tháng 11 năm 1999 tại Thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký thường trú: Cụm C, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: D7.14 Chung cư C, số B đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn L và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Ngày 16/12/2020, bị Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 332/2020/HSST, chấp hành án xong ngày 19/3/2022.
Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2023 đến ngày 19/9/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
2. Phan Hoàng T; sinh ngày 26 tháng 7 năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: B9/9 Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Phan Thị Mai P; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1973. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Ông Lương Vĩnh T2, sinh năm 1992. (vắng mặt)
- Địa chỉ: 6 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bà Huỳnh Thị Hồng T3, sinh năm 1972. (vắng mặt)
- Địa chỉ: B Tổ E, Khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Ông Lê Hoàng Minh V, sinh năm 1982. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Địa chỉ: 2 Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Ông Lê Triệu L1, sinh năm 1975. (vắng mặt)
- Địa chỉ: C Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Ông Vũ Ngọc D, sinh năm 1991. (vắng mặt)
- Địa chỉ: A N, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bà Nguyễn Thiên Mỹ D1, sinh năm 1972. (vắng mặt)
- Địa chỉ: 195/53/10 khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1975. (vắng mặt)
- Địa chỉ: A Đ, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 02 năm 2023, Đỗ Đức M bắt đầu hoạt động cho vay tiền lấy lãi với hình thức như sau: Người vay tiền đóng tiền lãi mỗi ngày từ 0,5%-2,6% số tiền vay cho đến khi trả hết tiền đã vay và người vay tiền trả góp số tiền gốc và tiền lãi 20% số tiền vay chia đều theo thời gian trả từ 27-31 ngày. Mạnh quảng cáo trên mạng xã hội Facebook, nếu ai có nhu cầu vay tiền thì liên lạc với M qua số điện thoại 0389.777.xxx, đồng thời M yêu cầu người vay tiền cung cấp căn cước công dân hoặc giấy chứng minh nhân dân để kiểm tra, đối chiếu đúng thông tin thì M đồng ý cho vay tiền. Đối với một số trường hợp thỏa thuận vay tiền thì M yêu cầu người vay tiền viết thêm giấy vay tiền rồi đưa cho M giữ. Sau đó, Mạnh trừ đi các khoản tiền gồm: 5% tiền phí vay ( tính trên khoản tiền vay) và tiền góp của 02 ngày, còn lại số tiền người vay nhận thì M sẽ chuyển khoản từ tài khoản số 0383777185, Ngân hàng TMCP Q (M1) qua tài khoản ngân hàng của người vay tiền. Số tiền còn lại người vay tiền sẽ phải góp trong vòng từ 27-31 ngày.
2
Kết quả điều tra xác định M đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cụ thể như sau:
- Lương Vĩnh T2: Ngày 27/5/2023, ông T2 thỏa thuận vay của M số tiền 70.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 17 ngày. Ông T2 đã góp 14 ngày với số tiền đã góp là 84.000.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền phí vay là 2.100.000 đồng và tiền lãi hợp pháp là 536.986 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 25.815.955 đồng; thu lợi bất chính là 27.915.955 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 981,52%/năm và tiền gốc ông T2 còn phải tiếp tục trả là 12.352.941 đồng.
- Huỳnh Thị Hồng T3: Ngày 04/5/2023, bà T3 thỏa thuận vay của M số tiền 50.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 30 ngày. Bà T3 đã góp 29 ngày với số tiền đã góp là 58.000.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền phí vay là 2.500.000 đồng và tiền lãi hợp pháp là 794.521 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 8.872.146 đồng; thu lợi bất chính là 11.372.146 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 243,33%/năm và tiền gốc bà T3 còn phải tiếp tục trả là 1.666.666 đồng.
- Lê Hoàng Minh V: Ngày 17/5/2023, ông V thỏa thuận vay của M số tiền 20.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 25 ngày. Ông V đã góp 23 ngày với số tiền đã góp là 23.000.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền phí vay là 1.000.000 đồng và tiền lãi hợp pháp là 252.055 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 4.347.945 đồng; thu lợi bất chính là 5.347.945 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm và tiền gốc ông V còn phải tiếp tục trả là 1.600.000 đồng.
- Lê Triệu L1: Ngày 29/5/2023, ông L1 thỏa thuận vay của M số tiền 50.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 29 ngày. Ông L1 đã góp 14 ngày với số tiền đã góp là 28.000.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền phí vay là 2.500.000 đồng và tiền lãi hợp pháp là 383.562 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 3.478.507 đồng; thu lợi bất chính là 5.978.507 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 201,37%/năm và tiền gốc ông L1 còn phải tiếp tục trả là 25.862.068 đồng.
- Vũ Ngọc D:
- + Ngày 13/02/2023, ông D thỏa thuận vay của M số tiền 100.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 30 ngày. Ông D đã trả hết số tiền vay với số tiền đã trả là 120.000.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền phí vay là 4.000.000 đồng và tiền lãi hợp pháp là 1.643.836 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 18.356.164 đồng; thu lợi bất chính là 22.356.164 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 243,34%/ năm.
- + Khoảng giữa tháng 3 năm 2023, ông D thỏa thuận vay của M số tiền 70.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 29 ngày. Ông D đã trả hết số tiền vay với số tiền đã trả là 81.200.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M không thu tiền phí vay và tiền lãi hợp pháp là 1.112.329 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 10.087.671 đồng; thu lợi bất chính là 10.087.671 đồng, tương ứng với lãi suất cho vay là 201,37%/năm.
- + Đầu tháng 4/2023, ông D thoả thuận vay của M số tiền 50.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 29 ngày. Ông D đã trả hết số tiền vay với số tiền đã trả là 58.000.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M không thu tiền phí vay và tiền lãi hợp pháp là 794.521 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 7.205.479 đồng; thu lợi bất chính là 7.205.479 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 201,37%/năm.
- + Ngày 07/6/2023, ông D thỏa thuận vay của M số tiền 100.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 29 ngày. Ông D đã góp 05 ngày với số tiền đã góp là 20.000.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền phí vay là 2.000.000 đồng và tiền lãi hợp pháp là 273.973 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 2.484.648 đồng; thu lợi bất chính là 4.484.648 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 201,37%/năm và tiền gốc ông D còn phải tiếp tục trả là 82.758.620 đồng.
- Nguyễn Thiên Mỹ D1: Ngày 14/5/2023, bà D1 thỏa thuận vay của M số tiền 50.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 25 ngày. Bà D1 đã góp 05 ngày với số tiền đã góp là 11.500.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền phí vay là 2.500.000 đồng và tiền lãi hợp pháp là 136.986 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 2.163.014 đồng; thu lợi bất chính là 4.663.014 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm. Đến ngày 15/5/2023, bà D1 không có khả năng trả góp theo ngày nên chuyển qua đóng tiền lãi đứng theo ngày với tiền lãi 01 ngày là 500.000 đồng (không trừ tiền gốc) và bà D1 đã đóng được 15 ngày là 7.500.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền lãi hợp pháp là 410.959 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 7.089.041 đồng; thu lợi bất chính là 7.089.041 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm và tiền gốc bà D1 còn phải tiếp tục trả là 40.000.000 đồng.
- Huỳnh Thị H1: Ngày 14/5/2023, bà H1 thỏa thuận vay của M số tiền 100.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 25 ngày. Bà H1 đã góp 09 ngày với số tiền đã góp là 41.500.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền phí vay là 5.000.000 đồng và tiền lãi hợp pháp là 493.151 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 7.806.849 đồng; thu lợi bất chính là 12.806.849 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm và tiền gốc bà H1 còn phải tiếp tục trả là 64.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị Thanh T1: Ngày 14/5/2023, bà T1 thỏa thuận vay của M số tiền 200.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 31 ngày. Khi cho vay, M yêu cầu bà T1 viết một giấy vay tiền với nội dung vay của M số tiền 250.000.000 đồng, hẹn đến 14/6/2023 phải thanh toán hết, sau đó M giữ lại tờ giấy nêu trên. Bà T1 đã góp 08 ngày với số tiền đã góp là 64.000.000 đồng. Cơ quan điều tra xác định: M đã thu được tiền phí vay của bà T1 là 5.000.000 đồng và tiền lãi hợp pháp là 876.795 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 11.510.384 đồng; thu lợi bất chính là 16.510.384 đồng, tương ứng lãi suất cho vay là 282,58%/năm và tiền gốc bà T1 còn phải tiếp tục trả là 148.387.096 đồng.
4
Do bà T1 không có khả năng góp tiền tiếp nên kêu M giảm tiền lãi vay thì M không đồng ý nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. Đến ngày 02/6/2023, M thuê Nguyễn Phước T4 đến tạt sơn nhà bà T1, tại địa chỉ A ấp T, xã T, huyện H để gây áp lực buộc bà T1 trả tiền, Thông đồng ý. M thoả thuận trả cho Thông số tiền 1.100.000 đồng, rồi chuyển khoản cho T4 trước 100.000 đồng đổ xăng, còn 1.000.000 đồng sau khi tạt sơn xong sẽ trả cho T4. M gửi hình ảnh, địa chỉ nhà bà T1 qua tin nhắn Z cho T4. Đến chiều ngày 02/6/2023, T4 đến nhà Phan Hoàng T rủ T đi tạt sơn nhà bà T1, hứa trả công cho T số tiền 500.000 đồng thì T đồng ý. T4 mua sẵn một hộp sơn bằng kim loại (loại 01kg) bên trong có đựng sơn màu đỏ dạng lỏng.
Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, T4 đón xe ôm đến nhà T, rồi T đưa xe máy hiệu Wave màu trắng, biển số 51Y2-6575 cho T4 điều khiển chở T, cả hai cùng nhau đi đến nhà bà T1. Khi đi đến gần nhà bà T1, T4 nói T tạt sơn xuống trước sân nhà bà T1. Rồi T4 cầm điện thoại bằng tay trái quay clip, tay phải điều khiển xe chở T chạy chậm ngang nhà bà T1 để T ngồi sau cầm hộp sơn tạt xuống trước sân nhà bà T1, còn T4 quay clip lại rồi tăng ga chở T bỏ chạy thoát. Trên đường bỏ chạy, T4 gửi clip qua Zalo cho M. M xem xong nói tạt sơn chưa đạt, phải tạt sơn thẳng vào trong nhà. T4 không đồng ý nên M nói vậy quay lại tạt sơn nhà bán bún của bà Huỳnh Thị H1, địa chỉ A Đ, ấp T, xã T, huyện H. T4 nói với T thì T đồng ý, T4 hứa trả tiền công cho T 500.000 đồng. Rồi M gửi hình ảnh, địa chỉ nhà bà H1 qua zalo cho T4, cả hai quay lại nhà bà H1, T4 cầm hủ sơn tạt trúng cửa rào của nhà bán bún, T4 dùng điện thoại di động quay clip, rồi chở T bỏ chạy thoát. Sau đó, T4 gửi clip qua zalo cho M, M xem xong nói tạt sơn vẫn chưa đạt nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. M chặn liên lạc và không trả tiền cho T4. Đến chiều ngày 05/6/2023, T4 tự lấy tiền của mình ra đưa cho T 600.000 đồng là tiền công về việc tạt sơn, còn thiếu lại T 400.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H số 124/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 8 năm 2023:
- - Chi phí khắc phục chùi rửa: 01 nền sân đá hoa (gạch men) kích thước 6m x 2,5m; 01 tủ nướng bánh mì kích thước 1,6m x 2,2m và 01 tủ kính đựng bánh mì kích thước 0,8 m x 1,2 m; số tiền 1.000.000 đồng
- - 300 ổ bánh mì loại nhỏ: 450.000 đồng
- - 25 kg bột mì đã ủ: 550.000 đồng
- Tổng cộng 2.000.000 đồng (BL 208-212)
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện H, các bị cáo Đỗ Đức M và Phan Hoàng T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- Thu của M:
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6plus màu xám và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen, dùng vào việc phạm tội.
- + Số tiền 321.558.788 đồng tiền Việt Nam, M khai đây là số tiền gốc, tiền lãi và tiền M sử dụng cho nhiều người vay tiền để thu tiền lãi.
5
- - Thu của Nguyễn Phước T4 01 điện thoại di động hiệu Poco X3 màu xanh đen, dùng vào việc phạm tội.
- - 01 xe máy hiệu Westncap màu xanh trắng biển số 51Y2-6575, số khung: PCHOA32W-006468, số máy: FMH-10458622. T khai mượn xe của bà ngoại là bà Nguyễn Thị G để làm phương tiện đi lại, bà G không biết T sử dụng vào việc phạm tội. Qua xác minh xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hoàng V1 đã bán lại cho bà G nhưng không làm thủ tục sang tên.
Tại Bản cáo trạng số: 15/CT-VKS-HM ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Đức M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 2 Điều 201, khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Phan Hoàng T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với Nguyễn Phước T4 đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã tách vụ án hình sự và ra quyết định truy nã, khi nào bắt được đề nghị xử lý sau; Về phần hủy hoại tài sản của bà Huỳnh Thị H1, do thiệt hại tài sản không đáng kể nên bà H1 tự khắc phục, không yêu cầu xử lý.
Tại phiên tòa:
1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- Về trách nhiệm hình sự:
- + Áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt:
- Đỗ Đức M từ 01 năm – 01 năm 06 tháng tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; từ 09 tháng – 01 năm tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành từ 01 năm 09 tháng – 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt:
- Phan Hoàng T từ 06 tháng – 09 tháng tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- + Các biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền nợ gốc mà người vay tiền đã trả cho bị cáo và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà M đã thu của những người vay tiền, đây là tiền bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội và tiền phát sinh từ tội phạm nên cần tịch thu sung công quỹ là 242.282.197 đồng.
- Đối với số tiền phí vay và tiền lãi bất hợp pháp mà bị cáo thu là 135.817.803 đồng, cần buộc bị cáo trả lại số tiền trên cho những người vay gồm: ông Lương Vĩnh T2: 27.915.955 đồng; bà Huỳnh Thị Hồng T3: 11.372.146 đồng; ông Lê Hoàng Minh V: 5.347.945 đồng; ông Lê Triệu L1: 5.978.507 đồng; ông Vũ Ngọc D:
6
4.484.648 đồng, bà Nguyễn Thiên Mỹ D1: 11.752.055 đồng; bà Huỳnh Thị H1: 12.806.849 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T1: 16.510.384 đồng.
Đối với số tiền nợ gốc mà người vay chưa trả hết cho bị cáo, cần buộc người vay phải nộp lại tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, cụ thể: ông Lương Vĩnh T2: 12.352.941 đồng; bà Huỳnh Thị Hồng T3: 1.666.666 đồng; ông Lê Hoàng Minh V: 1.600.000 đồng; ông Lê Triệu L1: 25.862.068 đồng; ông Vũ Ngọc D: 82.758.620 đồng, bà Nguyễn Thiên Mỹ D1: 40.800.000 đồng; bà Huỳnh Thị H1: 66.800.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T1: 148.387.096 đồng. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- + Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
- + Về phần dân sự: Bị hại bà T1 yêu cầu bị cáo Đỗ Đức M bồi thường 25.000.000 đồng, Bị cáo M và bà T1 đã thoả thuận xong về việc bồi thường nên bà T1 không có yêu cầu thêm gì về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày bổ sung và không có ý kiến tranh luận với nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn.
3. Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Xét thấy những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lương Vĩnh T2, bà Huỳnh Thị Hồng T3, ông Lê Triệu L1, ông Vũ Ngọc D, bà Nguyễn Thiên Mỹ D1 và bà Huỳnh Thị H1 vắng mặt; bà Nguyễn Thị Thanh T1 vàông Lê Hoàng Minh V có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, những người tham gia tố tụng này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thời tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trong vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
7
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua phần hỏi và tranh tụng công khai, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh:
Từ tháng 02 năm 2023, bị cáo Đỗ Đức M đã có hành vi cho các đương sự vay tiền với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:
- Ông Lương Vĩnh T2 vay số tiền 70.000.000 đồng với số tiền lãi là 1.882.353 đồng/ngày, tương đương 0,026%/ngày là 981,51%/năm, gấp 49 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Bà Huỳnh Thị Hồng T3 vay số tiền 50.000.000 đồng với số tiền lãi 333.333 đồng/ngày, tương đương lãi suất 0,0066%/ ngày là 243,33%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Ông Lê Hoàng Minh V vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 200.000 đồng/ngày, tương đương 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Ông Lê Triệu L1 vay số tiền 50.000.000 đồng với số tiền lãi 275.862 đồng/ngày, tương đương 0.0055172%/ngày là 201,38%/năm gấp 12,17 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Ông Vũ Ngọc D vay nhiều lần với số tiền lãi đến 666.666 đồng/ngày tương đương lãi suất 0.0055172%/ngày đến 0.006667%/ngày là 201,38%/năm đến 243,33%/năm, gấp từ 10,07 đến 12,17 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Bà Nguyễn Thiên Mỹ D1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất từ 500.000 đồng/ngày, tương đương 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Bà Huỳnh Thị H1 vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất 1.000.000đồng/ngày, tương đương 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1 vay số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 1.548.387 đồng/ngày, tương đương 282,58%/năm, gấp 14,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
8
Tổng số tiền bị cáo cho vay là 860.000.000 đồng với lãi suất cao gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó tiền lãi bị cáo M được phép thu là 7.709.589 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 109.217.805 đồng; tiền phí vay là 26.600.000 đồng; tổng thu lợi bất chính M thu được là 135.817.805 đồng nên bị cáo bị xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Ngoài ra, Đỗ Đức M cùng với Phan Hoàng T và Nguyễn Phước T4 đã có hành vi làm hư hỏng tài sản trị giá 2.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thanh T1.
[2.2] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Do đó, Bản cáo trạng số: 15/CT-VKS-HM ngày 25 tháng 12 năm 2023 truy tố đối với bị cáo Đỗ Đức M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Cáo trạng cũng truy tố bị cáo Phan Hoàng T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- “1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
- 2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tuy nhiên thuộc trường hợp ít nghiêm trọng với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Đỗ Đức M đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các hoạt động tín dụng, xâm phạm lợi ích của công dân. Hành vi của các bị cáo Đỗ Đức M cùng với Phan Hoàng T và Nguyễn Phước T4 đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.
Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo Đỗ Đức M và bị cáo Phan Hoàng T ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo:
[3.1]. Bị cáo Đỗ Đức M vừa chấp hành xong hình phạt tù chưa được xoá án tích nên có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm”, theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại Cơ quan điều tra và quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính, bị hại xin giảm nhẹ
9
trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3.2]. Bị cáo Phan Hoàng T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6plus màu xám và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen thu của M, 01 điện thoại di động hiệu Poco X3 màu xanh đen của T4 dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Số tiền 321.558.788 đồng tiền Việt Nam trong đó có tiền lãi thu lợi bất chính là 135.817.805 đồng và tiền nợ gốc mà người vay tiền đã trả cho bị cáo là 242.282.197 đồng là phương tiện phạm tội, bị cáo M đề nghị được tự nguyện giao nộp vào số tiền thu lợi bất chính sung vào ngân sách Nhà nước, Hội đồng xét xử ghi nhận.
- - 01 xe máy hiệu Westncap màu xanh trắng biển số 51Y2-6575, số khung: PCHOA32W-006468, số máy: FMH-10458622. T khai mượn xe của bà ngoại là bà Nguyễn Thị G để làm phương tiện đi lại, bà G không biết T sử dụng vào việc phạm tội. Qua xác minh xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hoàng V1 đã bán lại cho bà G nhưng không làm thủ tục sang tên. Do đó Hội đồng xét xử giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 12 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp của xe gắn máy trên. Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe gắn máy cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 12 tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
10
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại bà Nguyễn Thị Thanh T1 yêu cầu bị cáo Đỗ Đức M bồi thường 25.000.000 đồng, Bị cáo M và bà T1 đã thoả thuận xong về việc bồi thường, bà T1 không có yêu cầu thêm gì về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Các vấn đề khác:
- - Đối với số tiền phí vay và tiền lãi bất hợp pháp mà bị cáo Đỗ Đức M thu cần buộc bị cáo trả lại số tiền trên cho những người vay gồm: ông Lương Vĩnh T2: 27.915.955 đồng; bà Huỳnh Thị Hồng T3: 11.372.146 đồng; ông Lê Hoàng Minh V: 5.347.945 đồng; ông Lê Triệu L1:5.978.507 đồng; ông Vũ Ngọc D: 44.133.963 đồng, bà Nguyễn Thiên Mỹ D1:11.752.055 đồng; bà Huỳnh Thị H1: 12.806.849 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T1: 16.510.384 đồng.
- - Đối với số tiền nợ gốc mà người vay chưa trả hết cho bị cáo, cần buộc người vay phải nộp lại tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, cụ thể: ông Lương Vĩnh
11
T2: 12.352.941 đồng; bà Huỳnh Thị Hồng T3: 1.666.666 đồng; ông Lê Hoàng Minh V: 1.600.000 đồng; ông Lê Triệu L1: 25.862.068 đồng; ông Vũ Ngọc D: 82.758.620 đồng, bà Nguyễn Thiên Mỹ D1: 40.800.000 đồng; bà Huỳnh Thị H1: 66.800.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T1: 148.387.096 đồng.
- - Đối với Nguyễn Phước T4 đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã tách vụ án hình sự và ra quyết định truy nã, khi nào bắt được đề nghị xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về phần huỷ hoại tài sản của bà Huỳnh Thị H1, do thiệt hại tài sản không đáng kể nên bà H1 tự khắc phục, không yêu cầu xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8] Về án phí: Bị cáo Đỗ Đức M và bị cáo Phan Hoàng T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 2 Điều 201, khoản 1 Điều 178, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức M 06 (sáu) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2023 đến ngày 19/9/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;Xử phạt bị cáo Phan Hoàng T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6plus màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Poco X3 màu xanh đen; số tiền 321.558.788 đồng;
- Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng xe máy hiệu Westncap màu xanh trắng biển số 51Y2-6575, số khung: PCHOA32W-006468, số máy: FMH-10458622 trong thời hạn 12 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp. Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe gắn máy cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 12 tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
12
- Áp dụng Điều 117, Điều 123, Điều 130, Điều 131, Điều 468 Bộ luật Dân sựvà khoản 1, 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/202120/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:
- - Buộc bị cáo Đỗ Đức M phải trả lại số tiền cho những người vay gồm: ông Lương Vĩnh T2: 27.915.955 đồng; bà Huỳnh Thị Hồng T3: 11.372.146 đồng; ông Lê Hoàng Minh V: 5.347.945 đồng; ông Lê Triệu L1: 5.978.507 đồng; ông Vũ Ngọc D: 44.133.963 đồng, bà Nguyễn Thiên Mỹ D1: 11.752.055 đồng; bà Huỳnh Thị H1: 12.806.849 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T1: 16.510.384 đồng.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- - Buộc các đương sự phải nộp lại số tiền gốc chưa thanh toán sung vào ngân sách nhà nước: ông Lương Vĩnh T2: 12.352.941 đồng; bà Huỳnh Thị Hồng T3: 1.666.666 đồng; ông Lê Hoàng Minh V: 1.600.000 đồng; ông Lê Triệu L1: 25.862.068 đồng; ông Vũ Ngọc D: 82.758.620 đồng, bà Nguyễn Thiên Mỹ D1: 40.800.000 đồng; bà Huỳnh Thị H1:66.800.000 đồng; bàNguyễn Thị Thanh T1:148.387.096 đồng. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Ghi nhận bị cáo Đỗ Đức M tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 25.000.000 đồng, trong đó số tiền 10.000.000 đồng được cấn trừ vào số tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đã nộp theo Biên lai thu tiền số: 0001003 Ký hiệu BLTU/23P ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thanh T1 được liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền để nhận số tiền trên.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí: Buộc các bị cáo Đỗ Đức M, Phan Hoàng T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Áp dụng khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
13
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Hồng Hải |
Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 141/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đỗ Đức M 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2023 đến ngày 19/9/2023. Xử phạt bị cáo Phan Hoàng T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
