|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2024/HS-ST
Ngày: 30 - 9 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Công Gia.
2. Bà Trần Thị Yến Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Minh H – sinh năm 1972, tại Đồng Nai; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: công giáo; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1 – sinh năm 1944; vợ: Nguyễn Thị Kim L – sinh năm 1983; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
2/ Đặng Kim T – sinh năm 1973, tại Tiền Giang; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Đặng Văn T1 – sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị C (đã chết); chồng: Nguyễn Thành P – sinh năm 1964; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
3/ Võ Trí D – sinh năm 1969, tại Đồng Nai; cư trú: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Võ Văn C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2 – sinh năm 1942; vợ, con: không; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
4/ Nguyễn Ngọc K – sinh năm 1975, tại Bến Tre; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn S – sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị P1 – sinh năm 1950; vợ: Ngô Thị M1 – sinh năm 1978; con: có 05 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
5/ Nguyễn Thị Kim O – sinh năm 1972, tại Bến Tre; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn S – sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị P1 – sinh năm 1950; chồng: Thẩm Anh T3 – sinh năm 1970; con: có 01 con, sinh năm 2007; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
6/ Lê Văn T4 (tên gọi khác: Cu Cát) – sinh năm 1985, tại Long An; cư trú: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lê Phước N – sinh năm 1952 và bà Trần Thị T5 – sinh năm 1960; vợ: Đinh Thị Ngọc Q – sinh năm 1993; con: có 01 con, sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
7/ Mai Hải Đ – sinh năm 1975, tại Thanh Hóa; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: phật; con ông Mai Xuân Đ1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị X – sinh năm 1948; vợ: Đoàn Thị Loan E – sinh năm 1974; con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 29/3/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
8/ Bùi Văn T6 – sinh năm 1973, tại Nam Định; cư trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: công giáo; con ông Bùi Văn V – sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị H2 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị N1 – sinh năm 1974; con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
9/ Đỗ Văn G – sinh năm 1962, tại Nam Định; cư trú; ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: công giáo; con ông Đỗ Văn N2 (đã chết) và bà Đào Thị V1 (đã chết); vợ: Phạm Thị N3 – sinh năm 1966; con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền sự: không; nhân thân: không; tiền án: tại Bản án số 97/2023/HSST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xử phạt Đỗ Văn G số tiền 35.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Bị cáo chưa chấp hành xong, tính đến thời điểm thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo chưa được xóa án tích; bị cáo tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 29/3/2024 được tại ngoại và bị bắt tạm giam lại từ ngày 07/8/2024 đến cho tới nay (có mặt).
10/ Nguyễn Thế T7 – sinh năm 1978, tại Đồng Nai; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn S – sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị P1 – sinh năm 1950; vợ: Phạm Thị V2 – sinh năm 1979; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
11/ Wu-M5 (tên gọi khác: Ừng Mỹ K1) – sinh năm 1984, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Trung Quốc (Đài Loan); nơi cư trú trước đây: Khu C, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai và Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nữ; quốc tịch: Trung Hoa D (Đài Loan); tôn giáo: Phật giáo; con ông Ừng Chỉ Q1 – sinh năm 1963 và bà Trần Thị D1 – sinh năm 1964; chồng (tự khai): Hứa Khánh T8 – sinh năm 1963; con: có 01 con, sinh năm 2007; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/02/2024 đến ngày 02/5/2024 được tại ngoại và bị bắt tạm giam lại từ ngày 26/9/2024 cho tới nay (có mặt).
12/ Nguyễn Văn B – sinh năm 1986, tại Bến Tre; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn S – sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị P1 – sinh năm 1950; vợ: Ngọc Thị L1 – sinh năm 1988; con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại Quyết định xử phạt hành chính số 25/QĐ-XPC ngày 07/3/2019 Nguyễn Văn B bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
13/ Lý Phước V3 – sinh năm 1988, tại Đồng Nai; cư trú: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lý Văn T9 – sinh năm 1956 và bà Pham Thị K2 (đã chết); vợ: Ừng Nhộc Phòng – sinh năm 1990; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
14/ Nguyễn Thành P – sinh năm 1964, tại Tiền Giang; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Thanh V4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L2 (đã chết); vợ: Đặng Kim T – sinh năm 1973; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
15/ Trần Mỹ L3 – sinh năm 1980, tại Đồng Nai; cư trú: ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Trần Quốc T10 – sinh năm 1956 và bà Nình A M2 – sinh năm 1956; chồng: Chạc A C2 – sinh năm 1974; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2000 và con nhỏ sinh năm 2002; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Ừng Chỉ Q1 – sinh năm 1963; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Kim L – sinh năm 1983; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Trần Mỹ H3 – sinh năm 1986; cư trú: ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Võ Thị Q2 – sinh năm 1963; cư trú: ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ông Đoàn Văn T11 – sinh năm 1979; cư trú: ấp E, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 22 giờ 30 ngày 27/01/2024, tại nhà ông Ừ Chỉ Q1 thuộc ấp B xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp với Công an xã T phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với: Nguyễn Văn B, Lý Phước V3, Nguyễn Thành P, Trần Mỹ L3, Đoàn Văn T11, Võ Thị Q2, Trần Mỹ H3, Nguyễn Minh H, W - C (Ừng M), Đặng Kim T, Võ Trí D, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O đang có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền.
Khi lực lượng Công an bắt quả tang thì một số đối tượng bỏ chạy. Đến ngày 27/3/2024, Mai Hải Đ, Đỗ Văn G ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra đã làm rõ, cụ thể như sau:
Buổi tối ngày 27/01/2024, sau khi tham dự tiệc đám cưới tại nhà ông Ừng Chỉ Q1 thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì Nguyễn Văn B, Lý Phước V3, Nguyễn Thành P, Trần Mỹ L3, Đoàn Văn T11, Võ Thị Q2, Trần Mỹ H3, Nguyễn Minh H, W - C (Ừng M), Đặng Kim T, Võ Trí D, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O, Nguuyễn Thế T12, Đỗ Văn G, Mai Hải Đ, Bùi Văn T6, Đoàn Văn T11, Trần Mỹ H3, Võ Thị Q3 tự rủ nhau đánh bạc, sử dụng bàn ghế có sẵn tại đám tiệc rồi chia thành 03 chiếu bạc như sau:
- Tại chiếu bạc thứ nhất gồm có: Võ Trí D, Nguyễn Minh H, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O, Đặng Kim T, Mai Hải Đ, Nguyễn Thế T7, Bùi Văn T6, Đỗ Văn G, Lê Văn T4, W - C (Ừng M) chơi đánh bạc bằng hình thức chơi bài xì dách thắng thua bằng tiền. Hình thức chơi đánh bạc như sau: các con bạc tham gia chơi bài sẽ luân phiên làm cái sau 03 ván bài, người làm cái sử dụng bộ bài tây 52 lá chia làm 6 tụ, mỗi tụ được chia lần lượt 02 cây, số bài còn lại nhà cái úp xuống dùng để lật bài khi đến lượt nhưng không được xem. Mỗi người chơi sẽ tùy vào điểm số của mình mà tùy chọn bốc thêm bài hoặc dừng. Nhà cái sẽ bốc bài sau cùng. Cách tính điểm như sau: các lá bài 2,3,4,5,6,7,8,9,10 thì số điểm tương ứng với các con số; các lá bài J, Q, K thì mỗi lá được tính 10 điểm; lá bài át (A): có thể tính linh hoạt là 1 điểm, 10 điểm hoặc 11 điểm. Tổng điểm là điểm của tất cả các lá bài trên tay cộng lại. Nếu 02 lá bài đủ 16 điểm thì không cần phải bốc thêm, nếu chưa đủ 16 điểm thì phải bốc thêm bài đến khi đạt đủ tối thiểu 16 điểm, sau khi bốc 03 lá bài dưới chiếu mà tổng điểm của người chơi đạt hoặc dưới 21 điểm gọi là ngũ linh, nếu trên 21 điểm thì gọi là “Quắc” và không được bốc tiếp bài. Người đánh bài thắng thua với người làm cái, ai cao điểm hơn người đó thắng, thứ tự điểm từ lớn đến bé trong bài như sau: Xì bàn (02 lá đều “A”); xì dách (bài 02 lá, trong đó có 01 lá “A”, lá còn lại có thể là 10, J, Q, K); tiếp theo là ngũ linh (05 lá bài nhỏ hơn hoặc bằng 21 điểm), cuối cùng là tính điểm theo thứ tự từ 21 điểm đến 15 điểm. Số tiền đặt cược cho mỗi ván từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng. Các bị cáo chơi đánh bạc đến 22 giờ 20 phút thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Quá trình điều tra xác định các bị cáo khai nhận số tiền đánh bạc như sau:
Võ Trí D sử dụng 1.000.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 700.000 đồng;
Nguyễn Minh H sử dung 400.000 đồng, bắt quả tang thu giữ 100.000 đồng;
Đặng Kim T sử dụng 1.400.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 1.700.000 đồng;
Nguyễn Ngọc K sử dụng 1.000.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 600.000 đồng;
Lê Văn T4 sử dụng số tiền 450.000 khi bắt quả tang thu giữ 90.000 đồng;
Nguyễn Thị Kim O sử dụng 200.000 đồng, Mai Hải Đ sử dụng 700.000 đồng, Ừng M3 Kim sử 1.000.000 đồng, Nguyễn Thế T7 sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc khi bắt quả tang không thu giữ tiền; Bùi Văn T6 khai đem theo số tiền đánh bạc là 300.000 đồng, Đỗ Văn G khai đem theo số tiền đánh bạc là 200.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền các bị cáo Võ Trí D, Nguyễn Minh H, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O, Đặng Kim T, Mai Hải Đ, Nguyễn Thế T7, Bùi Văn T6, Đỗ Văn G, Lê Văn T4, Wu M4 – C (Ừng M) sử dụng để đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức chơi bài xì dách vào ngày 27/01/2024 là 7.190.000 đồng. Trong đó gồm số tiền 4.000.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và số tiền 3.190.000 đồng thu giữ trên người các bị cáo chứng minh được sử dụng vào mục đích đánh bạc. (Các bút lục 375-376; 382-397; 411-419; 420-436; 455-470; 479-514).
- Tại chiếu bạc thứ hai gồm có: Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Thành P, Lý Phước V3 và một số đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài binh xập xám. Khi chơi cả nhóm chia làm 04 tụ chính do 04 đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cầm bài, còn Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Thành P, Lý Phước V3 tham gia ké bài với các tụ chính và thắng thua trực tiếp với người làm cái, các tụ thay nhau làm cái xoay tua. Riêng Trần Mỹ L3 có hành vi tham gia giúp sức cầm bài, sắp xếp bài cho 01 đối tượng làm cái (chưa rõ nhân thân lai lịch).
Hình thức chơi như sau: Người làm cái sử dụng bộ bài tây 52 lá chia làm 04 tụ, mỗi tụ 13 lá bài. Người chơi sắp xếp 13 lá bài thành 03 chi, chỉ thứ nhất 05 lá bài, chi thứ hai 05 lá bài, chi thứ ba gồm 03 lá bài, sắp xếp các lá bài thành bộ, sao cho chi thứ nhất lớn hơn chi thứ 2, chi thứ 2 lớn hơn chi thứ 3, Mỗi người chơi sắp xếp thành các chi khác nhau, độ lớn của các chi được sắp xếp theo thứ tự tăng dần: Thứ tự từ nhỏ đến lớn tại bài binh xập xám như sau: nhỏ nhất là mậu thầu (các lá bài lẻ trong chi), đôi (có 02 lá bài giống nhau), thú (có 02 đôi), xám chi (03 lá bài giống nhau), sảnh (05 lá bài theo thứ tự liên tiếp và không đồng chất), thùng (05 lá bài cùng chất, không cùng thứ tự), cù lũ (gồm 03 lá bài giống nhau và 01 đôi), thùng phá sảnh (gồm 05 lá bài theo thứ tự liên tiếp và đồng chất). Sau khi sắp xếp bài xong, người chơi sẽ so sánh chi với người chơi làm cái, nếu có 02 chi trở lên lớn hơn người làm cái thì thắng, ngược lại thì thua. Trong bài mậu binh chỉ xét độ lớn, không xét chất của lá bài các tụ con so sánh bài với tụ cái để xác định thắng thua. Các bị cáo quy ước mức tiền cá cược 01 ván là từ 200.000 đồng đến 200.000 đồng, trực tiếp thắng thua với người làm cái. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh xập xám thắng thua bằng tiền thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Qúa trình bắt quả tang một số đối tượng bỏ trốn.
Qua điều tra các bị cáo khai nhận số tiền dùng vào việc đánh bạc như sau:
Nguyễn Văn B mang theo số tiền 10.000.000 đồng, sử dụng 5.000.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 8.000.000 đồng (trong đó có 5.000.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc); Lý Phước V3 mang theo số tiền 5.000.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 5.800.000 đồng (trong đó có số tiền 4.000.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc); Nguyễn Thành P sử dụng số tiền 200.000 đồng, khi bắt quả tang thua hết số tiền trên.
Tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Thành P, Lý Phước V3 dùng vào mục đích đánh bạc là 9.450.000 đồng, trong đó gồm số tiền 4.650.000 đồng thu tại chiếu bạc và số tiền 4.800.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thanh B1, Lý Phước V3 chứng minh được sử dụng vào mục đích đánh bạc. (Các bút lục 398-399; 403-410; 437-448; 471-478).
+ Tại chiếu bạc thứ ba gồm có Trần Mỹ H3, Võ Thị Q3, Đoàn Văn T11 chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức chơi bài câu cá. Hình thức chơi bài câu cá như sau: Cả nhóm sử dụng bộ bài tây 52 lá, mỗi người sẽ được chủ bàn chia 08 lá bài, người đi bài trước sẽ được chia thêm 01 lá bài để đánh mở màn. Sau khi chia cho mỗi người chơi 08 lá bài thì nhà cái sẽ lấy 12 lá bài đặt ngửa lên bàn chơi để làm bài chung. Số bài dư còn lại xếp chồng lên nhau để làm N4. Người cầm cái sẽ bắt đầu ván chơi, thứ tự người chơi tính theo chiều kim đồng hồ, người chơi sẽ lấy 1 lá bài của mình đổi với bài chung để tạo thành cặp, nếu không có bài chung nào phù hợp thì sẽ qua tua, khi nào N4 được rút hết thì ván chơi kết thúc và mọi người sẽ so điểm bài để thắng cược. Ai có điểm cao nhất sẽ thắng. Quy tắc tính điểm như sau: Lá bài từ 2-10 là điểm tương ứng giá trị bài, lá bài J, Q, K và 09 đỏ thì tính 10 điểm; lá A tính 20 điểm; lá A+ lá 9 đỏ tính 30 điểm; lá bài đen không tính điểm. 01 điểm tương đương với 1.000 đồng, ai tới sang sông (90 điểm) thì được ăn 70.000 đồng. Cả nhóm chơi đến 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Qua điều tra các đối tượng khai nhận số tiền dùng vào việc đánh bạc như sau: Đoàn Văn T11 mang theo số tiền 1.720.000 đồng, sử dụng 120.000 đồng đánh bạc; Trần Mỹ H3 mang theo số tiền 2.800.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc, Võ Thị Q3 sử dụng số tiền 180.000 đồng để đánh bạc. Như vậy tổng số tiền các đối tượng Trần Mỹ H3, Võ Thị Q3, Đoàn Văn T11 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 550.000 đồng là tiền thu giữ trên chiếu bạc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- Tại chiếu bạc chơi xì dách: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 4.000.000 đồng; 01 bộ bài tây 52 lá; 01 cái chăn hoa; 02 cái bàn; 05 cái ghế. Thu giữ trên người các đối tượng số tiền: Nguyễn Minh H 100.000 đồng; Đặng Kim T 1.700.000 đồng; Võ Trí D 700.000 đồng; Lê Văn T4 90.000 đồng; Nguyễn Ngọc K 600.000 đồng. Ngoài ra thu giữ 07 điện thoại di động các loại.
- Tại chiếu bạc chơi bài binh xập xám: Thu trên chiếu bạc 4.650.000 đồng; 01 bộ bài tây 52 lá, 01 cái bàn, 05 cái ghế. Thu trên người các đối tượng: Nguyễn Văn B số tiền 8.000.000 đồng, Lý Phước V3 số tiền 5.800.000 đồng, 01 Nguyễn Thành P; 03 điện thoại di động các loại.
- Tại chiếu bạc chơi bài câu cá: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 550.000 đồng; 01 bộ bài tây 52 lá, 01 cái bàn, 05 cái ghế, 01 chiếc chăn hoa. Thu trên người các đối tượng: Đoàn Văn T11 1.600.000 đồng; Trần Mỹ H3 2.700.000 đồng; Võ Thị Q3; 03 điện thoại bàn phím màu.
Tại Cáo trạng số 70/CT-VKSTP - ĐN ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Minh H, Đặng Kim T, Võ Trí D, Lê Văn T4, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O, W-C (Ừng M), Bùi Văn T6, Nguyễn Thế T7, Mai Hải Đ, Đỗ Văn G, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thanh P2, Lý Phước V3, Trần Mỹ L3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội và giữ nguyên Quyết định đã truy tố; Sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp, cụ thể như sau:
Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn G 06 đến 08 tháng tù.
Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Đề nghị xử phạt bị cáo Wu M4-Chin (Ừng M) 03 (Ba) tháng 03 (Ba) ngày tù, bị cáo đã chấp hành xong.
Căn cứ Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Wu M4-C (Ừng M) nếu không bị tạm giam về một tội phạm nào khác.
Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt Đặng Kim T 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Xử phạt Võ Trí D 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Xử phạt Lê Văn T4 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Xử phạt Nguyễn Ngọc K 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Xử phạt Nguyễn Thị Kim O 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Xử phạt Bùi Văn T6 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Xử phạt Nguyễn Thế T7 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt Mai Hải Đ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Xử phạt Nguyễn Văn B 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- Xử phạt Nguyễn Thanh P2 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Xử phạt Lý Phước V3 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Xử phạt Trần Mỹ L3 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 17.190.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 03 bộ bài tây là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm.
- Đối với tài sản là số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn B, số tiền 4.000.000 đồng của bị cáo Lý Phước V3; số tiền 1.600.000 đồng của Đoàn Văn T11, số tiền 2.700.000 đồng của Trần Mỹ H3, 13 điện thoại di động các loại thu giữ của các bị cáo, quá trình điều tra đã làm rõ không liên quan đến vụ án đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ nên không xét.
- Đối với 04 cái bàn và 15 cái ghế, 02 cái chăn hoa các bị cáo sử dụng để đánh bạc là tài sản của ông Ừng Chỉ Q1, ông Q1 không biết việc các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu.
- Đối với ông Ừ Chỉ Q1 là chủ nhà nơi các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc, ông Q1 không biết việc các bị cáo thực hiện việc đánh bạc tại nhà mình và cũng không thu tiền xâu do đó không có cơ sở để xử lý đối với ông Q1.
- Đối với Trần Mỹ H3, Võ Thị Q3, Đoàn Văn T11 thực hiện hành vi đánh bạc với tổng số tiền 550.000 đồng, các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về các tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”, do đó hành vi của các đối tượng nêu trên chưa cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc đối với Trần Mỹ H3, Võ Thị Q3, Đoàn Văn T11.
- Đối với các đối tượng bỏ trốn khi lực lượng Công an bắt quả tang, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở xử lý.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện: Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, tại nhà ông Ừ Chỉ Q1 thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Nguyễn Minh H, Đặng Kim T, Võ Trí D, Lê Văn T4, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O, W-C (Ừng M), Mai Hải Đ, Bùi Văn T6, Nguyễn Thế T7, Đỗ Văn G thực hiện đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức chơi bài xì dách với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 7.190.000 đồng; các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Thanh P2, Lý Phước V3, Trần Mỹ L3 thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức chơi bài binh xập xám với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 9.450.000 đồng.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 70/CT-VKSTP - ĐN ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Minh H, Đặng Kim T, Võ Trí D, Lê Văn T4, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O, W-C (Ừng M), Bùi Văn T6, Nguyễn Thế T7, Mai Hải Đ, Đỗ Văn G, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thanh P2, Lý Phước V3, Trần Mỹ L3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương nói riêng, trong thời gian qua tệ nạn đánh bạc, tổ chức đánh bạc gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội nói chung. Đồng thời, các bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của tệ nạn cờ bạc gây ra và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội về tổ chức đánh bạc. Song vì tham lam, vụ lợi nên các bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải đưa các bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt tương xứng đối với các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đỗ Văn G có tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h, khoản 1 Điều 52.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo Nguyễn Minh H, Đặng Kim T, Võ Trí D, Lê Văn T4, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O, W-C (Ừng M), Bùi Văn T6, Nguyễn Thế T7, Mai Hải Đ, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thanh P2, Lý Phước V3, Trần Mỹ L4 tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo G không được hưởng tình tiết quy định tại điểm i. Ngoài ra, các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, có 04 bị cáo là nữ, là lao động chính, có một số bị cáo nuôi các con còn nhỏ; có 03 bị cáo là anh em ruột, số tiền đánh bạc không lớn và chỉ vì ham vui trong đám cưới mà vi phạm pháp luật, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo Nguyễn Minh H, Đặng Kim T, Võ Trí D, Lê Văn T4, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O, W-C (Ừng M), Mai Hải Đ, Bùi Văn T6, Nguyễn Thế T7, Đỗ Văn G, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thanh P2, Lý Phước V3 tham gia với vai trò là người thực hành. Bị cáo Trần Mỹ L3 tham gia vụ án với vai trò dồng phạm giúp sức. Tuy nhiên, cần phải cá thể hóa hình phạt như sau:
- Bị cáo Đỗ Văn G có tiền án chưa được xóa án tích, nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo G phải cao hơn các đồng phạm còn lại và phải là hình phạt tù;
- Bị cáo Wu M4-C3 (Ừng M) là người nước ngoài nếu áp dụng các hình phạt khác không phải là hình phạt tù sẽ không đảm bảo cho việc thi hành án nếu bị cáo không có mặt tại Việt Nam, nên phải xử phạt bằng hình phạt tù, nhưng mức hình phạt thấp hơn so với bị cáo G và áp dụng Điều 54 của bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, đồng thời xét thấy xử phạt bị cáo bằng với thời hạn đã tạm giam là 03 tháng 3 ngày tù và trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo cũng đủ để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Bị cáo Nguyễn Văn B có nhân thân bị xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong từ năm 2019, cho đến nay đã được xóa án tích về xử phạt hành chính theo quy định, thời gian vi phạm tính đến nay cũng đã lâu và không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Mặt khác, trong vụ án này bị cáo có 3 anh chị em bị đưa ra xét xử, số tiền đánh bạc không lớn và chỉ vì ham vui trong đám cưới mà vi phạm pháp luật, do đó xét thấy không nhất thiết phải xử phạt tù đối với bị cáo mà xử phạt tiền và mức phạt tiền phải cao nhất trong các bị cáo bị phạt tiền.
- Các bị cáo còn lại có nhân thân tốt nên mức hình phạt tiền là đủ để răn đe và giáo dục, mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo theo thứ tự từ bị cáo T thấp hơn bị cáo B nhưng cao hơn các bị cáo còn lại có hình phạt ngang nhau gồm: H, D, K, V3, là ngang nhau; mức hình phạt tiếp theo và thấp nhất trong vụ án và bằng nhau gồm các bị cáo T4, O, Đ, T6, T7, P2, L3.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử cũng xem xét và cân nhắc giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[6] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
- Số tiền 17.190.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 03 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng là công cụ dùng vào mục đích đánh bạc, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với tài sản là số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn B, số tiền 4.000.000 đồng của bị cáo Lý Phước V3; số tiền 1.600.000 đồng của Đoàn Văn T11, số tiền 2.700.000 đồng của Trần Mỹ H3, 13 điện thoại di động các loại thu giữ của các bị cáo, quá trình điều tra đã làm rõ không liên quan đến vụ án đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ nên không xét.
- Đối với 04 cái bàn và 15 cái ghế, 02 cái chăn hoa các bị cáo sử dụng để đánh bạc là tài sản của ông Ừng Chỉ Q1, ông Q1 không biết việc các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở.
- Đối với ông Ừ Chỉ Q1 là chủ nhà nơi các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc, ông Q1 không biết việc các bị cáo thực hiện việc đánh bạc tại nhà mình và cũng không thu tiền xâu, do đó không có cơ sở để xử lý đối với ông Q1.
- Đối với Trần Mỹ H3, Võ Thị Q3, Đoàn Văn T11 thực hiện hành vi đánh bạc với tổng số tiền 550.000 đồng, các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về các tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”, do đó hành vi của các đối tượng nêu trên chưa cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc đối với Trần Mỹ H3, Võ Thị Q3, Đoàn Văn T11.
- Đối với các đối tượng bỏ trốn khi lực lượng Công an bắt quả tang, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở xử lý.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án.
[9] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh H, Đặng Kim T, Võ Trí D, Lê Văn T4, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Kim O, W-C (Ừng M), Mai Hải Đ, Bùi Văn T6, Nguyễn Thế T7, Đỗ Văn G, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thanh P2, Lý Phước V3, Trần Mỹ L3 phạm tội “Đánh bạc”;
Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn G 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024 (được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 29/3/2024).
Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Wu M4-C (Ừng M) 03 (Ba) tháng 03 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024 và được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 05/2/2024 đến ngày 02/5/2024 (bị cáo đã chấp hành xong).
Căn cứ Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Wu M4-C (Ừng M) nếu không bị tạm giam về một tội phạm nào khác.
Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt Nguyễn Minh H: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)
- Xử phạt Đặng Kim T: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Xử phạt Võ Trí D: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt Lê Văn T4: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Xử phạt Nguyễn Ngọc K: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)
- Xử phạt Nguyễn Thị Kim O: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Xử phạt Bùi Văn T6: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Xử phạt Nguyễn Thế T7: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Xử phạt Mai Hải Đ: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Xử phạt Nguyễn Văn B: 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt Nguyễn Thanh P2: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Xử phạt Lý Phước V3: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt Trần Mỹ L3: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Căn cứ vào khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 03 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 17.190.000 đồng;
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo cho việc thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/6/2024 và theo ủy nhiệm chi số 53/2024 ngày 24/6/2024).
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Tuấn |
Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 141/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024
