|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 141/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh
Ông Trần Quốc Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và thông báo mở lại phiên tòa số: 09/TB-TA ngày 19 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Hoàng Tuấn A, sinh ngày: 20/5/1996 tại Ninh Thuận; hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (Không rõ tên) và con bà Hoàng Thị T sinh năm 1967, hiện đang sinh sống tại thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; gia đình: Có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Lưu Thị Thanh N sinh năm 1998 (đã ly hôn), hiện đang cư trú tại huyện L, tỉnh Lâm Đồng; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 12/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 34/2024/HS-ST.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ (Cục C - Bộ C1). Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Họ và tên: K’Nhuận, sinh ngày: 25/12/2002 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 02/12; giới tính: Nam; dân tộc: Cơ ho; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông K, sinh năm 1973 và con bà Ka H, sinh năm 1976, hiện cả hai đang sinh sống tại tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; gia đình: Có 03 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất; vợ: Sống chung như vợ chồng với Yan L, sinh năm 2001, hiện cư trú tại huyện L, tỉnh Lâm Đồng; con: Có 01 người con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 34/2024/HS-ST.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ (Cục C - Bộ C1). Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị hại: Anh Đỗ Duy T1, sinh năm: 1987; nơi cư trú: Số B L, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Vương Quốc A1, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 30/9/2023, Hoàng Tuấn A gặp Vương Ngọc S, sinh năm 1989, thường trú tại thôn N, xã N, huyện L ở nhà của anh Vương Quốc A1, sinh năm 1983, thường trú tại thôn H, xã N, huyện L. Trong quá trình nói chuyện với nhau thì anh Vương Ngọc S nói với Tuấn A ở khu vực thành phố B có vườn cây cảnh có mấy cây tùng đẹp lắm, thấy vậy thì Tuấn A biết S thích những cây tùng trên nên đã nảy sinh ý định đi trộm cắp để mang về cho S. Sau đó, Tuấn A hỏi S địa chỉ của vườn cây trên rồi rủ K1, T2 và T3 (cả hai chưa xác định được nhân thân lai lịch) đến thành phố B lấy trộm cây cảnh thì K1, T2 và T3 đồng ý. Đến khoảng 16 giờ đến 17 giờ cùng ngày, Tuấn A cùng K1, T2 và T3 điều khiển 02 xe mô tô đi từ huyện L đến thành phố B. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì cả nhóm của Tuấn A đi đến khu vực hồ N, thành phố B và dừng xe mô tô ở bên hông vườn cây cảnh của anh Đỗ Duy T1, sinh năm: 1987 ở số B L, phường A, thành phố B. Do lúc này trên đường L có nhiều người dân nên nhóm Tuấn A ngồi chơi đến khoảng 22 giờ thì Tuấn A và K1 trèo rào vào bên trong vườn cây, còn T2 và T3 thì đứng ở bên ngoài. Vào trong vườn cây thì Tuấn A và K1 thấy có nhiều cây cảnh mới được đưa về, chủ vườn chưa trồng xuống đất cũng chưa đưa vào chậu, những cây tùng ở trong vườn cây đã đánh sẵn tạo bầu để trên mặt đất. K’Nhuận lấy được 03 cây tùng, Tuấn A lấy được 02 cây tùng đưa qua hàng rào cho T2 và T3 đang đợi sẵn rồi cả nhóm điều khiển xe mô tô đưa 05 cây tùng đến 01 bãi đất trống ở hẻm B L, phường L, thành phố B rồi đưa về huyện L trồng trong sân nhà của Vương Quốc A1 thì bị Công an thành phố B phát hiện thu giữ được 02 cây tùng đã bị trộm, còn lại 03 cây tùng cơ quan điều tra không thu hồi được.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 07 ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá thành phố B xác định: 05 cây tùng cối cao 1,5m, chu vi gốc là 28cm, đã thu hồi được 02 cây có giá trị là 18.000.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là anh Đỗ Duy T1 02 cây tùng cối chiều cao 1,5m, chu vi gốc xanh là 28cm.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Duy T1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là tiền mua cây và công chăm sóc cây.
Cáo trạng số: 122/CT-VKSBL ngày 08/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Hoàng Tuấn A và K1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo vắng mặt nhưng tại đơn xin vắng mặt đề ngày 19/9/2024, các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố không oan, đồng ý liên đới bồi thường cho anh Đỗ Duy T1 20.000.000đ; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Tuấn A và K1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt mỗi bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù; tổng hợp hình phạt 06 (S1) năm tù tại Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, buộc bị cáo Hoàng Anh T4 và K1, mỗi người phải chấp hành chung hai bản án là từ 08 (T) năm đến 08 (T) năm 06 (S1) tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện, các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Đỗ Duy T1 20.000.000đ, phần mỗi bị cáo là 10.000.000đ.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại đơn xin xét xử vắng mặt các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại đơn xin vắng mặt phù hợp lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận:
Trưa ngày 30/9/2023 Hoàng Tuấn A rủ K1, T2 và T3 (cả hai chưa xác định được nhân thân lai lịch) đến thành phố B lấy trộm cây cảnh của nhà dân thì K1, T2 và T3 đồng ý. Đến khoảng 16 giờ đến 17 giờ cùng ngày, Tuấn A cùng K1, T2 và T3 điều khiển 02 xe mô tô đi từ huyện L đến thành phố B. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì cả nhóm của Tuấn A đi đến khu vực hồ N, thành phố B và dừng xe mô tô ở bên hông vườn cây cảnh của anh Đỗ Duy T1 tại địa chỉ số B L, phường A, thành phố B. Do lúc này trên đường L có nhiều người dân nên nhóm Tuấn A ngồi chơi đến khoảng 22 giờ thì Tuấn A và K1 trèo rào vào bên trong vườn cây, còn T2 và T3 thì đứng ở bên ngoài. Vào trong vườn cây thì Tuấn A và K1 thấy có nhiều cây cảnh mới được đưa về, chủ vườn chưa trồng xuống đất cũng chưa đưa vào chậu, những cây tùng ở trong vườn cây đã đánh sẵn tạo bầu để trên mặt đất. K’Nhuận lấy được 03 cây tùng, Tuấn A lấy được 02 cây tùng đưa qua hàng rào cho T2 và T3 đang đợi sẵn rồi cả nhóm điều khiển xe mô tô đưa 05 cây tùng đến 01 bãi đất trống ở hẻm B L, phường L, thành phố B rồi đưa về huyện L trồng trong sân nhà của Vương Quốc A1 thì bị Công an thành phố B phát hiện thu giữ được 02 cây tùng đã bị trộm, còn lại 03 cây tùng Cơ quan điều tra không thu hồi được. Theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 07 ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá thành phố B xác định: 05 cây tùng cối cao 1,5m, chu vi gốc là 28cm mà các bị cáo trộm cắp của anh T1 có giá trị là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng).
Trong khi, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện.
Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Tuấn A và K1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- - Nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu (Ngày 12/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 34/2024/HS-ST).
- - Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về vai trò của các bị cáo: Mặc dù, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể mà cả hai cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên chỉ là đồng phạm giản đơn và có vai trò ngang nhau.
[5] Về hình phạt chính: Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, các bị cáo đều có sức khỏe nhưng lười lao động, muốn thỏa mãn nhu cầu cho bản thân nên đi trộm cắp tài sản. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Mặt khác, các bị cáo có nhân thân xấu, đang chấp hành hình phạt 06 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản nên cần thiết phải xử phạt tù giam, nhất thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.
[7] Về vật chứng:
- - Đối với 02 cây tùng cối chiều cao 1,5m, chu vi gốc xanh là 28cm; Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Đỗ Duy T1 là đúng pháp luật.
- - Đối với 03 cây tùng cối còn lại, Cơ quan điều tra Công an thành phố B không thu giữ được nên không xem xét đến.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đỗ Duy T1 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 20.000.000đ là giá trị các tài sản trộm cắp nhưng không thu hồi được. Các bị cáo Hoàng Tuấn A và K1 tự nguyện đồng ý liên đới bồi thường cho anh Đỗ Duy T1 20.000.000đ. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các bị cáo, không vi phạm điều cấm của pháp luật cũng như đạo đức xã hội nên cần ghi nhận tự nguyện bồi thường này. Buộc các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 20.000.000₫ cho anh T1, trong đó phần của mỗi bị cáo là 10.000.000đ.
[9] Về các vấn đề khác:
- - Đối với 02 đối tượng T2 và T3 là người mà Hoàng Tuấn A và K1 khai nhận cùng các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Đỗ Duy T1. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý là có căn cứ.
- - Đối với Vương Ngọc S, quá trình điều tra Hoàng Tuấn A và K1 trình bày sau khi trộm cắp 05 cây tùng của anh Đỗ Duy T1 thì gọi S đến chở 05 cây tùng về nhà Vương Quốc A1 để trồng và S biết đây là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có. Tuy nhiên ngoài lời trình bày của các bị cáo thì không có chứng cứ nào khác chứng minh việc S đồng phạm với các bị cáo trong việc trộm cắp tài sản hay tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên việc Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ.
- - Đối với Vương Quốc A1, quá trình điều tra xác định vào thời điểm bị cáo Hoàng Tuấn A và K1 thực hiện hành vi trộm cắp 05 cây tùng của anh Đỗ Duy T1 rồi mang về trồng trong vườn của nhà Quốc A2 thì Quốc A2 không có mặt tại địa phương, Quốc A2 đồng ý cho các bị cáo trồng cây tùng ở nhà mình nhưng không biết đó tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên việc Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ.
- - Đối với chị Lỗ Thị M, sinh năm: 1988, thường trú tại thôn H, xã N, huyện L (vợ của Vương Quốc A1), quá trình điều tra xác định chị M không biết ai là người trồng và không biết thời điểm trồng 02 cây tùng trên tại vườn nhà chị M nên việc Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ.
[10] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về ý kiến của viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, vấn đề dân sự, án phí và các vấn đề khác là có căn cứ nên cần chấp nhận. Tuy nhiên, về hình phạt đối với các bị cáo có phần qua nghiêm khắc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Tuấn A và K1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 56, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn A 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 (S1) năm tù tại Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, buộc bị cáo Hoàng Tuấn A phải chấp hành chung hai bản án là 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/10/2023.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 56, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo K1 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 (S1) năm tù tại Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, buộc bị cáo K1 phải chấp hành chung hai bản án là 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/11/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự.
Các bị cáo Hoàng Tuấn A và K1 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Đỗ Duy T1 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Trong đó phần của mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường là 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Hoàng Tuấn A và K1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án, các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Khắc Phong |
Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự về tội "trộm cắp tài sản"
- Số bản án: 141/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Trộm cắp tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Anh T và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
