Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỦ LÝ

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2024/HS-ST.

Ngày 10-9-2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Man và bà Nguyễn Thị Huê.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/TLST-HS ngày 09/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HS ngày 29/8/2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn N, sinh năm 1990 tại Hà Nam; nơi ĐKTT, chỗ ở: Thôn 4C, xã B, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Trần Thị P; có vợ là Phạm Thị V, sinh năm 1991 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án: Ngày 22/12/2016, Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 08 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/05/2022; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 18/05/2024, tạm giam từ ngày 21/05/2024 đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/05/2024, Bùi Văn N đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực cầu câu Tử thuộc thôn 2, xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý thì xuống xe. Tại đây, N gặp bạn mới quen khoảng 40 tuổi (N không biết tên tuổi, lai lịch), N hỏi người này: “Có ma túy chơi không?” thì người đàn ông trả lời: “Tao không có, tao có tiền mày đi mua ma túy về tao với mày cùng sử dụng” rồi lấy ra số tiền 2.000.000đồng đưa cho N. Thấy người đàn ông nói như vậy, N đồng ý, cầm tiền của người đàn ông rồi thuê xe ôm đi đến khu vực xã Công Lý, huyện Lý Nhân để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực gầm cầu Châu Giang thuộc xã Công Lý, huyện Lý Nhân, N gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 50 tuổi, N hỏi người này: “Có ma túy không bán cho em?” thì người đàn ông trả lời: “Có, mua nhiều không”, N nói: “Bán cho em hai triệu” rồi lấy số tiền 2.000.000đồng đưa cho người này. Người đàn ông cầm tiền bảo N đứng chờ rồi bỏ đi khoảng 05 phút sau quay lại đưa cho N 01 gói giấy bạc màu trắng. Biết gói giấy bạc người đàn ông đưa cho là ma túy nên N liền cầm lấy, giữ trong lòng bàn tay trái rồi thuê xe ôm quay trở về. Khi đi tới khu vực cầu Câu Tử, N bị tổ công tác Công an xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý kiểm tra, phát hiện thấy cất giấu ma túy nên đã lập biên bản bắt giữ quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01 và một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA.

Tại bản Kết luận giám định số 355/KL-KTHS ngày 22/05/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam đã kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,336gam, loại Heroine".

Bản Cáo trạng số 129/CT-VKS-PL ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Bùi Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Bùi Văn N, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Hình phạt chính: Xử phạt Bùi Văn N từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bùi Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng, lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/05/2024, tại khu vực cầu Câu Tử thuộc thôn 2, xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý, Bùi Văn N bị lực lượng Công an xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,336 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

    Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

  4. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
    1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; có nhân thân xấu do đã bị kết án phạt tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và chưa được xóa án tích.
    2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 53 của Bộ Luật Hình sự.
    3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. Về hình phạt:
    1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo là người đã bị kết án về tội phạm ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, tu dưỡng bản thân và biết ăn năn hối cải mà vẫn tiếp tục vi phạm do cố ý, thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
    2. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập, tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản...) đối với bị cáo.
  6. Về tình tiết khác của vụ án: Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi gặp ở khu vực cầu Câu Tử thuộc thôn 2, xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý và người đàn ông khoảng 50 tuổi gặp ở khu vực cầu Châu Giang thuộc xã Công Lý, huyện Lý Nhân theo bị cáo khai là người đã đưa tiền cho bị cáo để đi mua ma túy và người đã bán ma túy cho bị cáo để cất giấu, do quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an khu vực tiến hành xác minh làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
  7. Về xử lý vật chứng đã thu giữ:
    1. Đối với chiếc điện thoại di động NOKIA, quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của Bùi Văn N, không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án nên trả lại cho bị cáo.
    2. Đối với toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật Nhà nước quy định cấm tàng trữ, lưu hành nên sẽ tịch thu, tiêu hủy.
  8. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/05/2024.
  2. Xử lý vật chứng:
    1. Trả lại bị cáo Bùi Văn N 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ ngoài màu xanh đen, bên trong có lắp một sim điện thoại Viettel, số IMEI: 354275381169101, tình trạng đã cũ, qua sử dụng.
    2. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, số 355/KTHS, mặt sau phong bì có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

    Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 08/8/2024.

  3. Án phí: Bị cáo Bùi Văn N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thành phố Phủ Lý;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Phủ Lý;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý;
  • - Bị cáo Bùi Văn N;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 141/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger