|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 141/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/9/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
Ông Nguyễn Hữu Tới
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 77/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung T1, Sinh năm: 1989.
- - Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- - Nơi ở hiện nay: P, Tòa nhà K, khu K, Quận A, tỉnh Aichi, Nhật Bản (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
- * Bị đơn: Chị Trịnh Thị L, Sinh năm: 1990 ( Có mặt)
- - Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ngõ B, Khu Q, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/01/2024, bản tự khai ngày 05/01/2024 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Trung T1 trình bày:
1. Về hôn nhân: Tôi và chị Trịnh Thị L kết hôn với nhau vào năm 2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và đã được UBND xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/01/2017 theo số: 01/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên đến khoảng năm 2021, giữa chúng tôi bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng nhau về quan điểm sống, có sự khác biệt nhau trong tính cách và lối sống sinh hoạt hằng ngày. Vì thương con, vợ chồng cũng nhiều lần ngồi lại nói chuyện với nhau mong hàn gắn tình cảm, nhưng mâu thuẫn vẫn không giải quyết được. Khoảng tháng 04/2023, tôi sang Nhật Bản công tác, vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung không thể kéo dài thêm, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Trịnh Thị L.
2. Về con chung: Trong quá trình chung sống, chúng tôi có 01 con chung là cháu Nguyễn Hải M, sinh ngày: 17/09/2021, giới tính: Nữ. Nay khi ly hôn, vợ chồng đã thống nhất giao cháu Nguyễn Hải M cho mẹ cháu là chị Trịnh Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Tôi – Nguyễn Trung T1 sẽ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hải M với mức 5.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu đồng/tháng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 01/2024 cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi.
3. Về tài sản chung, nợ chung Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng không vay nợ ai, cũng không ai vay nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Trên đây là toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của tôi, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
Anh Nguyễn Trung T1 sau khi làm và nộp đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt có chứng thực của Tổng lãnh sự quán nước Cộng hòa X tại Nhật Bản cho Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thì anh ủy quyền cho chị Vũ Thị C và anh Nguyễn Chí N, địa chỉ: Số C Đ, phường T, quận C thay mặt anh tham gia tố tụng.
Bị đơn chị Trịnh Thị L sau khi nhận Thông báo thụ lý vụ án của TAND tỉnh Thanh hóa, chị đã có đơn đề nghị xem xét ngày 20/5/2024 như sau:
1. Về hôn nhân: Tôi Trịnh Thị L đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Trung T1.
2. Về con chung: Tôi đồng ý nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Hải M (Sinh ngày 17/09/2021)
3. Về cấp dưỡng: Trong văn bản anh T1 gửi cho tòa án, có ghi cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Hải M 5.000.000 đ (Năm triệu đồng/tháng) cho tới khi cháu đủ 18 tuổi. Nhưng thực tế anh T1 bỏ nhà đi không rõ lý do từ tháng 4/2023, hiện tại tôi đang là vợ chính thức nhưng không biết anh T1 ở đâu, làm gì, với ai, có lúc liên lạc được (liên lạc bằng điện thoại), có lúc không liên lạc được. Tôi đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, nhưng anh T1 đã dừng hẵn việc chu cấp để cùng tôi nuôi con là cháu Nguyễn Hải M từ tháng 02/2024.
4. Về tài sản và công nợ chung: Anh T1 ghi trong văn bản gửi tòa án, vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Tuy nhiên thực tế anh T1 không thành thật trong việc thỏa thuận phân chia tài sản với tôi. Anh T1 hẹn tôi tháng 4 năm 2024 sẽ gặp tôi để lên phòng C1 phân chia tài sản, và yêu cầu tôi tháng 4 năm 2024 phải gửi giấy xác nhận cư trú của tôi cho luật sư của anh T1 để làm thủ tục li hôn. Nhưng khi tôi gửi giấy tờ cho luật sư xong, thì luật sư của anh trường có liên hệ với anh T1 lại nói tháng 8 năm 2024 mới về được và mong muốn của anh T1 cứ li hôn trước, tài sản chia khi nào cũng được, nhưng tôi không đồng ý vì: Anh T1 bỏ nhà ra đi, không báo cho tôi, có khi liên lạc được (bằng điện thoại), có khi không, con cái anh này cũng không hỏi han, và dừng hẵn việc chu cấp cùng tôi nuôi con từ tháng 02/2024. Tôi cần anh T1 cho tôi một ngày/tháng cụ thể trong năm 2024 là ngày vợ chồng gặp nhau chia tài sản, sau đó tiến hành li hôn để mẹ con tôi dùng tài sản đó ổn định cuộc sống, cũng như tôi có điều kiện tốt hơn để chăm sóc cháu Nguyễn Hải M.
Cụ thể vợ chồng tôi có những tài sản chung sau: 01 diện tích đất 110,9m² thuộc thửa 3312, tờ bản đồ số 13 tại: Khu dân cư rạch bắp, xã A, huyện B, tỉnh Bình Dương; 01 diện tích đất thuộc thửa 3984, tờ bản đồ số 26 tại: Khu dân cư Ấ, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Về công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản, công nợ chung theo quy định của pháp luật.
Kính mong tòa xem xét bảo vệ quyền lợi của một người mẹ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng, chồng không chu cấp, và tài sản chung cố tình nhì nhằng kéo dài không muốn chia cho tôi nuôi con.
Tại Văn bản đơn xin hủy yêu cầu phân chia tài sản ngày 15/8/2024 chị L gửi TAND tỉnh Thanh Hóa với nội dung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng giữa chị và anh T1.
* Tại phiên tòa ngày 10/9/2024 chị L giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong đơn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh T1, xin được nuôi con chung và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con cùng chị mỗi tháng 5.000.000đ thời gian cấp dưỡng từ tháng 02/2024 cho đến khi cháu Hải M đủ 18 tuổi.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tố tụng tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, HĐXX đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật pháp luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 điều 227; khoản 1, 2 điều 228; 273, 479 của Bộ luật TTDS; Khoản 1 điều 56; Các điều 81; 82; 83 luật HNGĐ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn anh Nguyễn Trung T1 đối với bị đơn chị Trịnh Thị L và giao con chung của anh chị là cháu Nguyễn Hải M, sinh ngày 17/9/2021 cho chị L có quyền trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L mỗi tháng 5.000.000đ, thời gian đóng góp cấp dưỡng tính từ tháng 02/2024 cho đến khi cháu Hải M đủ 18 tuổi.
Về án phí: Anh Nguyễn trung T1 phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí DSST không có giá ngạch đối với nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền của Tòa án: Anh Nguyễn Trung T1 là nguyên đơn đang cư trú, làm ăn, sinh sống tại Nhật Bản, bị đơn là chị Trịnh Thị L hiện đang cư trú tại Ngõ B, Khu Q, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Do trong vụ án có Nguyên đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Trung T1 có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định.
[2] Về nội dung:
- Về hôn nhân: Nguyễn Trung T1 và chị Trịnh Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện;có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại điều 8; 9 luật HNGĐ năm 2014.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, anh T1 trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn nhiều năm và không thể hòa giải, cả hai không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Bản thân chị L khi biết anh T1 nộp đơn ly hôn thì chị cũng đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T1. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh T1 và chị T2 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được và cả hai đều mong muốn ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho anh T1 được ly hôn chị L
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Hải M, sinh ngày 17/09/2021 hiện cháu đang ở với chị L. Anh chị đều thống nhất giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận của anh chị hoàn toàn phù hợp với pháp luật, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện sống và tốt nhất cho sự phát triển của cháu Hải M nên HĐXX chấp nhận giao cháu Hải M cho chị L có quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
- Về cấp dưỡng: Trong văn bản anh T1 gửi cho tòa án, anh đề xuất mức cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Hải M 5.000.000đ /tháng (Năm triệu đồng/tháng) cho tới khi cháu Hải M đủ 18 tuổi ý kiến của anh cũng được chị L đồng ý, tuy nhiên anh chưa đưa ra được mốc thời gian bắt đầu cấp dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ và quyền của bố mẹ đối với con. Anh đã dừng đóng góp chi phí nuôi con cùng chị L từ tháng 02/2024 và chị L có yêu cầu anh phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng, chi phí nuôi con vì hiện tại con còn nhỏ và chị chưa thể có thời gian, điều kiện làm việc, lao động để nuôi con, yêu cầu của chị L là chính đáng, do vậy HĐXX ấn định anh T1 phải có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 5.000.000đ, thời gian đóng góp cấp dưỡng tính từ tháng 02/2024 cho đến khi cháu Hải M đủ 18 tuổi phù hợp với quy định tại Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản, công nợ chung: anh T1, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí: Anh T1 là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí DSST không có giá ngạch đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp 300.000đ theo biên lại thu số 0000301 ngày 03/5/2024 của Cục THADS tỉnh T, anh T1 còn phải nộp 300.000đ tiền án phí.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271; 273 và 479 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 1, 2 điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; 273; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51; 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trung T1.
- Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Trung T1 được ly hôn với chị Trịnh Thị L.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải M, Sinh ngày 17/9/2021 là con chung của anh T1, chị L cho chị Trịnh Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh T1 phải có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L mỗi tháng 5.000.000đ, thời gian đóng góp cấp dưỡng tính từ tháng 02/2024 cho đến khi cháu Hải M đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Trung T1 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
2. Về án phí: Anh T1 phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí DSST không có giá ngạch đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp 300.000đ theo biên lại thu số 0000301 ngày 03/5/2024 của Cục THADS tỉnh T. Anh T1 còn phải nộp 300.000₫ tiền án phí.
3. Quyền kháng cáo:
Chị Trịnh Thị L có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Trung T1 có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Quân |
Bản án số 141/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 141/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
