Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 141/2024/HC-ST

Ngày: 30-7-2024

“V/v: Khiếu kiện quyết định

hành chính trong lĩnh vực

quản lý đất đai”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Diệu
Bà Phạm Thị Lập

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Vệ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Bà Nguyễn Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 108/2024/TLST-HC ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-HC ngày 26 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HC ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện:

Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1981; Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1987; Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của ông N và bà T: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959; Địa chỉ: A, khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

Người bị kiện:

Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Q - Phó Chủ tịch;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hoàng N1 - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn T2, sinh năm 1964;

Bà Đỗ Thị Kim V, sinh năm 1969;

Ông Lê Minh N2, sinh năm 2003;

Bà Lê Thị Kim Á, sinh năm 1990;

Ông Lê Quốc C, sinh năm 1997;

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Long An.

(Ông T1, ông T2 có mặt; Ông Q, ông N1, bà V, ông N2, bà Á, ông C xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa của người khởi kiện, người đại diện cho người khởi kiện có nội dung như sau:

Ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị Thanh T yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 537751 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp cho ông Lê Văn T2 ngày 10/9/2001 đối với thửa đất số 413, tờ bản đồ số 06, diện tích 2695m²; tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An.

Lý do: Nguồn gốc thửa đất số 413 do cha mẹ ông N cho ông N quản lý và sử dụng ổn định từ năm 1975 cho đến nay, đất có ranh giới, mốc giới, rào chắn rõ ràng. Thời gian gần đây ông N có làm đơn đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan đo đạc phát hiện đã cấp nhầm một phần diện tích thửa đất số 413 cho ông Lê Văn T2. Tại biên bản hòa giải ngày 15/5/2023, ông Lê Văn T2 cũng thừa nhận phần diện tích thửa đất 413 là của ông N. Do đó, ông N đã làm đơn gửi đến Ủy ban nhân dân huyện T kiến nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông Lê Văn T2. Ngày 09/8/2023 Ủy ban nhân dân huyện T có Văn bản số 4754/UBND-KT hướng dẫn ông N và bà T khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Long An để được xem xét giải quyết theo thẩm quyền. Do đó, ngày 03/01/2024 ông N, bà T làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 537751 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp cho ông Lê Văn T2 ngày 10/9/2001 đối với thửa đất số 413, tờ bản đồ số 06 nêu trên để ông N, bà T được đăng ký cấp lại cho đúng đối tượng và vị trí thực tế sử dụng.

Tại Văn bản số 2924/UBND-NC ngày 22/5/2024 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện T có nội dung:

Nguồn gốc, diễn biến thửa đất số 413, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An:

Ngày 14/11/1995 ông Lê Tấn L có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có thửa đất số 413, tờ bản đồ số 6, diện tích 2695m², loại đất trồng cây lâu năm. Ngày 04/6/2024, Ủy ban nhân dân huyện C1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Tấn L trong đó có thửa đất nêu trên.

Năm 2001 ông Lê Tấn L lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông

Lê Văn T2 trong đó có thửa đất số 413, tờ bản đồ số 6. Ngày 10/9/2001, Ủy ban nhân dân huyện C1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 537751 cho ông Lê Văn T2 thửa đất nêu trên.

Đối với yêu cầu của người khởi kiện, căn cứ hồ sơ đã được cung cấp Ủy ban nhân dân huyện T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn T2, bà Đỗ Thị Kim V trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 10/5/2024 có nội dung như sau: Thửa đất số 413, tờ bản đồ số 6 hiện tại ông T2, bà V chỉ sử dụng một phần, phần còn lại do ông Nguyễn Văn N sử dụng. Ranh giới đất giữa ông T2, bà V và ông N đã có ranh giới rõ ràng, ông T2, bà V đồng ý trả lại một phần thửa đất để ông N đăng ký cấp giấy theo đúng thực tế sử dụng. Ngoài ra ông T2, bà V đề nghị vắng mặt tất cả các phiên họp cũng như các phiên xét xử tại Tòa án.

Ông Lê Quốc C trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 25/6/2024 có nội dung như sau: Thửa đất số 413, tờ bản đồ số 6 do ông Nguyễn Văn N đang quản lý và sử dụng, có ranh giới rõ ràng, không ai tranh chấp. Ông C thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông N, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 537751 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp cho ông Lê Văn T2 ngày 10/9/2001 đối với thửa đất số 413, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An để ông N đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng diện tích thực tế sử dụng. Ngoài ra ông C đề nghị vắng mặt tất cả các phiên họp cũng như các phiên xét xử tại Tòa án.

Bà Lê Thị Kim Á và ông Lê Minh N2 không có ý kiến gì và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo qui định của Luật Tố tụng Hành chính.

Về nội dung: Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 537751 cho ông Lê Văn T2 đối với thửa đất 413, tờ bản đồ số 06; tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An là trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Tấn L với ông Lê Văn T2 là đúng trình tự, theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2, Ủy ban nhân dân huyện T không kiểm tra, xem xét hiện trạng thực tế nên cấp không đúng đối tượng, vị trí sử dụng. Nội dung này được chứng minh qua lời trình bày của ông T1, ông T2, bà V, ông C và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của

ông N và bà T là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông N và bà T.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị Thanh T yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 537751 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lê Văn T2 ngày 10/9/2001 đối với thửa đất 413, tờ bản đồ số 06; tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Tháng 5/2023, ông N biết được ông T2 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất 413, ông N đã làm đơn gửi đến Ủy ban nhân dân huyện T kiến nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông Lê Văn T2. Ngày 09/8/2023 Ủy ban nhân dân huyện T có Văn bản số 4754/UBND-KT hướng dẫn ông N khởi kiện đến Tòa án tỉnh để được xem xét giải quyết theo thẩm quyền. Do đó, ngày 03/01/2024 ông N làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là trong thời hiệu, vì vậy Tòa án thụ lý giải quyết là đúng qui định tại Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính.

[3] Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông N2, bà Á vắng mặt, người khởi kiện có đơn đề nghị không tiến hành đối thoại, nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng Hành chính.

[4] Người đại diện của người bị kiện ông Nguyễn Văn Q, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Nguyễn Hoàng N1; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Kim V, ông Lê Minh N2, bà Lê Thị Kim Á, ông Lê Quốc C đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông Q, ông N1, bà V, ông N2, bà Á, ông C là phù hợp.

[5] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định: Ngày 10/9/2001 Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 537751 cho ông Lê Văn T2 đối với thửa đất 413, tờ bản đồ số 06; tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An là trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê

Tấn L với ông Lê Văn T2 là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, ban hành quyết định theo quyết định theo Luật Đất đai năm 1993.

[6] Về nội dung của quyết định hành chính: Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 537751 cho ông Lê Văn T2 ngày 10/9/2001 đối với thửa đất 413, tờ bản đồ số 06; tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An. Tuy nhiên, thửa đất 413 hiện ông N và bà T là người trực tiếp sử dụng, trên đất có một cái ao và 05 ngôi mộ, Ủy ban nhân dân huyện T khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2, không kiểm tra, xem xét hiện trạng thực tế nên cấp sai vị trí, sai đối tượng sử dụng. Nội dung này được chứng minh qua lời trình bày của ông T1, ông T2, bà V, ông C và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Như vậy, có cơ sở xác định Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 413, tờ bản đồ số 06; tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An cho ông Lê Văn T2 là không đúng vị trí, đối tượng sử dụng đất, là trái với quy định Điều 2, Điều 20, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, bà Trần Thị Thanh T là có căn cứ nên được chấp nhận, như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.

[7] Về chi phí tố tụng và án phí:

Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Ông N đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng Hành chính.

Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 357, Điều 358, Điều 116, Điều 30, Điều 32, Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính;

Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Căn cứ Điều 02, Điều 20, Điều 73, Luật Đất đai năm 1993;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 537751 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lê Văn T2 ngày 10/9/2001 đối với thửa đất 413, tờ bản đồ số 06; tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An.

Ông Nguyễn Văn N được quyền đăng ký, kê khai để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn N chịu 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc (ông N đã nộp xong).

3. Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000324 ngày 19/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Cục THADS tỉnh Long An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Minh Trí

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Lê Quang Diệu – Phạm Thị Lập

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/HC-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 141/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai Ủy ban nhân dân huyện T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger