Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2024/DS-ST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Bùi Nguyên Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Hồ Sỹ Hoài
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hữu Yến Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 199/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 153/2024/QÐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N

Địa chỉ trụ sở: 2 N, phường H, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Phan S – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – Chi nhánh K1 (Giấy ủy quyền số 480/UQ-VCB-PC ngày 14/10/2021);

Người nhận ủy quyền lại: Ông Huỳnh Thái K – Chức vụ: Trưởng phòng KHBL; Địa chỉ: Số A Q, phường L, thành phố N (Giấy ủy quyền số 183/UQ-VCB-KHH ngày 31/7/2023) (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Lê Hoài V, sinh năm: 1979

Nơi cư trú: Số A D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;

Địa chỉ liên hệ: Số B L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31/7/2023 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 29/6/2019, ông Trần Lê Hoài V có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (viết tắt là Ngân hàng) yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V1 và Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V1, hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng; loại thẻ V1; số thẻ 546285***1366.

Quá trình sử dụng thẻ, ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thanh toán sao kê nhiều kỳ cho Ngân hàng nên phát sinh nợ quá hạn đối với thẻ tín dụng từ ngày 25/3/2020; thẻ đã khóa trên hệ thống ngày 26/3/2020 và đã hủy vào ngày 24/11/2020. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và mời ông V đến làm việc nhưng ông V vẫn không thực hiện thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng. Tính đến hết ngày 26/9/2024, ông V còn nợ số tiền là 317.906.225 đồng (Ba trăm mười bảy triệu chín trăm lẻ sáu nghìn hai trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó: Nợ gốc: 29.200.133 đồng, Lãi tín dụng: 33.758.042 đồng, P phạt chậm thanh toán và phí vượt hạn mức: 254.948.050 đồng.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc ông Trần Lê Hoài V phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 317.906.225 đồng (gồm Nợ gốc: 29.200.133 đồng, L tín dụng: 33.758.042 đồng, P phạt chậm thanh toán và phí vượt hạn mức: 254.948.050 đồng) và có trách nhiệm thanh toán các khoản lãi quá hạn, phí phát sinh từ ngày 26/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng các bên đã ký kết.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Thái K có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/7/2024, bị đơn là ông Trần Lê Hoài V trình bày:

Ông V xác nhận có ký yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V1, hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, do không thanh toán hết dư nợ thẻ tín dụng nên đã để phát sinh lãi và phí phạt do chậm thanh toán. Tại Biên bản làm việc ngày 24/11/2022, ông V đề nghị thanh toán số tiền 4.000.000 đồng vào ngày 15 hàng tháng cho Ngân hàng. Tuy nhiên ông chỉ thực hiện thỏa thuận này trong các tháng 5, 6, 7 năm 2023 sau đó lại mất khả năng thanh toán. Hiện nay, do không đủ điều kiện kinh tế để thanh toán một lần số tiền nợ tín dụng, ông V đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện, đồng ý cho ông trả nợ hàng tháng với số tiền 2.000.000 đồng, không tính thêm lãi phạt và giảm một phần phí chậm thanh toán.

Bị đơn ông Trần Lê Hoài V có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N và ông Trần Lê Hoài V có xác lập quan hệ hợp đồng tín dụng; tạm tính đến ngày 26/9/2024 ông V còn nợ Ngân hàng số tiền là 317.906.225 đồng (gồm Nợ gốc: 29.200.133 đồng, L tín dụng: 33.758.042 đồng, P phạt chậm thanh toán và phí vượt hạn mức: 254.948.050 đồng). Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ an được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N khởi kiện ông Trần Lê Hoài V yêu cầu thanh toán nợ từ hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông V đăng ký thường trú và sinh sống tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Thái K và bị đơn ông T có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tính có hiệu lực của hợp đồng:

Theo tài liệu nguyên đơn cung cấp thể hiện, ngày 29/6/2019 ông Trần Lê Hoài V và Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có giao kết Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V1 cùng Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V1, loại thẻ V1. Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng được hai bên tự nguyện giao kết, nội dung và hình thức không trái quy định pháp luật nên có hiệu lực.

[3] Về nội dung:

Căn cứ yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V1 và Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V1 ký ngày 29/6/2019, xác định giữa Ngân hàng và chủ thẻ ông Trần Lê Hoài V có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng, loại thẻ V1 MasterCard với hạn mức 50.000.000 đồng, lãi và phí theo thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V1. Việc thỏa thuận của các đương sự phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Quá trình sử dụng thẻ, ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Nay, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N yêu cầu ông V thanh toán khoản nợ gốc quá hạn đối, với số tiền 29.200.133 đồng (Hai mươi chín triệu hai trăm nghìn một trăm ba mươi ba đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Về yêu cầu thanh toán lãi và phí phát sinh: Thứ tự thanh toán nợ được áp dụng theo quy định tại Điều 4 Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V1. Do ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông V sang nợ quá hạn từ ngày 25/3/2020 là phù hợp. Như vậy, tính đến ngày 26/9/2024, số tiền lãi tín dụng là 33.758.042 đồng (Ba mươi ba triệu bảy trăm năm mươi tám nghìn không trăm bốn mươi hai đồng), Phí phạt chậm thanh toán và phí vượt hạn mức là 254.948.050 đồng (Hai trăm năm mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi tám nghìn không trăm năm mươi đồng). Ngân hàng đề nghị ông V có trách nhiệm thanh toán số tiền này và tiếp tục thanh toán khoản lãi quá hạn, phí phát sinh từ ngày 27/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất và biểu phí quy định tại Hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về yêu cầu xin trả dần của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, ông V đề nghị được trả dần hàng tháng số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), yêu cầu Ngân hàng không tính thêm lãi phạt và giảm một phần phí chậm thanh toán do ông không đủ điều kiện kinh tế. Tuy nhiên, đề nghị này của ông không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. H lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.

Buộc bị đơn ông Trần Lê Hoài V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 317.906.225 đồng (Ba trăm mười bảy triệu chín trăm lẻ sáu nghìn hai trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó: Nợ gốc: 29.200.133 đồng, Lãi tín dụng: 33.758.042 đồng, P phạt chậm thanh toán và phí vượt hạn mức: 254.948.050 đồng.

Kể từ ngày 27/9/2024, ông Trần Lê Hoài V còn phải chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V1 đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

2. Về án phí: Bị đơn ông Trần Lê Hoài V phải chịu 15.895.311 đồng (Mười lăm triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm mười một đồng) án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm ứng án phí là 4.567.000 đồng (Bốn triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002259 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Quy định:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Nha Trang;
  • - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Nguyên Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 141/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 141/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger