|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 141/2024/DS-PT Ngày 21-8-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Ái Loan
Ông Lê Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 119/2024/TLPT-DS, ngày 11 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án sơ thẩm số 93/2023/DS-ST, ngày 26-12-2023 của Tòa án nhân dân thành phố T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 79/2024/QĐ-PT, ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị T, sinh năm 1949; cư trú tại số D, đường Đ nối dài, Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bị đơn: Anh Thái D, sinh năm 1972; cư trú tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Thạch Thị Sa T1, sinh năm 1979 (có mặt)
- Chị Thái Thị Lệ N, sinh năm 1998 (vắng mặt)
- Chị Thái Thị Ngọc T2, sinh năm 2000 (có mặt)
- Anh Thái T3, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Cùng cư trú tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của chị N, chị T2 và anh T3: Anh Thái D, sinh năm 1972; cư trú tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 10/6/2020” (có mặt).
- Ông Lý Công T4, sinh năm 1953 (vắng mặt)
- Chị Lý Thị Công T5, sinh năm 1981 (có mặt)
- Anh Lý Công T6, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Chị Lý Thị Công H, sinh năm 1984 (có mặt)
- Anh Lý Công T7, sinh năm 1989 (có mặt)
Cùng cư trú tại số D, đường Đ nối dài, Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Anh Lý Công L, sinh năm 1989 (chết)
- Anh Tăng Quang M, sinh năm 1968 (vắng mặt)
- Chị Trần Thị Thanh L1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Cùng cư trú tại số A, đường Đ, Khóm F, Phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1950 (vắng mặt)
- Chị Thạch Thị D1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
- Chị Thạch Thị Đa R, sinh năm 1977 (vắng mặt)
- Anh Trần R1, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Cùng cư trú tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Lâm Thị H2, sinh năm 1957 (Chết năm 2023)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H2, gồm có:
- Chị Thạch Thị S, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Anh Thạch Same N1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Chị Thạch Thị S1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Anh Thạch S2, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Anh Thạch S3, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- Anh Thạch Tuấn E (vắng mặt)
- Anh Thạch Ngọc T8 (vắng mặt)
Cùng cư trú tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Người phiên dịch: Ông Thạch V, Giáo viên Trường THCS P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người kháng cáo: Bà Thạch Thị T là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 01 năm 2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Thạch Thị T trình bày: Bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 250m², thửa số 1914, loại đất cây lâu năm, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Giáp ranh liền kề với thửa đất của bà là diện tích đất của anh Thái D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 195. Trong quá trình sử dụng đất, anh D đã sử dụng lấn ranh giới qua diện tích đất của bà khoảng 40,6m² (Chiều ngang 1,2 mét, chiều dài 33,8 mét). Do anh D không đồng ý giao trả diện tích đất đã lấn chiếm cho bà, nên bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh D có nghĩa vụ giao trả cho bà diện tích đất khoảng 40,6m² để bà quản lý, sử dụng.
2
Theo bị đơn anh Thái D trình bày: Diện tích đất mà bà T khởi kiện yêu cầu anh trả cho bà T khoảng 40,6m², có nguồn gốc trước đây là của mẹ anh. Sau đó, gia đình anh chiết thửa để chuyển nhượng đất cho nhiều người sử dụng. Lúc gia đình anh chiết thửa để chuyển nhượng đất, có chừa một phần diện tích đất chiều ngang 01 mét, chiều dài hết thửa đất để làm lối đi chung để những người có diện tích đất ở bên trong, đi ra vào đường công cộng (Đường Đ). Vì vậy, anh không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà T.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Thạch Thị Sa T1 trình bày: Chị thống nhất theo lời trình bày của anh D.
Theo những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm: Anh Tăng Quang M, chị Trần Thị Thanh L1, bà Huỳnh Ngọc H1, chị Thạch Thị D1, chị Thạch Thị Đa R, anh Trần R1, đều có ý kiến trình bày, phần diện tích đất bà T tranh chấp với anh D là đất lối đi công cộng dành cho các hộ gia đình cùng sử dụng để đi ra vào đường Đ. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại bản án sơ thẩm số 93/2023/DS-ST, ngày 26-12-2023 của Tòa án nhân dân thành phố T đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5, Điều 100, Điều 166 và khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị T.
- Buộc anh Thái D có nghĩa vụ trả cho bà Thạch Thị T giá trị diện tích đất 6,2m², với số tiền bằng 37.200.000 đồng (Ba mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Công nhận cho anh Thái D được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất 6,2m² (Ký hiệu K), thuộc một phần thửa số 230, loại đất ở và trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 79, tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Đất có tứ cận và kích thước như sau:
- Hướng Đông giáp Phần ký hiệu B (Đường đất), kích thước 0,98 mét;
- Hướng Tây giáp thửa số 03, kích thước 0,05 mét;
- Hướng Nam giáp Phần ký hiệu P, kích thước 12,20 mét;
- Hướng Bắc giáp Phần ký hiệu A, kích thước 12,27 mét.
(Có sơ đồ kèm theo)
3
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Buộc bà Thạch Thị T phải chịu số tiền bằng 7.924.200 đồng (Bảy triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn hai trăm đồng), nhưng được trừ vào số tiền bà Thạch Thị T đã nộp tạm ứng trước bằng 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng), nên không phải nộp tiếp. Bà Thạch Thị T đến Tòa án nhân dân thành phố T nhận lại số tiền nộp tạm ứng còn thừa bằng 151.600 đồng (Một trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm đồng).
Buộc anh Thái D phải chịu số tiền bằng 7.924.200 đồng (Bảy triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn hai trăm đồng), để hoàn trả cho bà Thạch Thị T.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Thạch Thị T.
Buộc anh Thái D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 1.860.000 đồng (Một triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/01/2024, nguyên đơn bà Thạch Thị T làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, diện tích đất bà T khởi kiện yêu cầu anh D trả cho bà T, theo hiện trạng đo đạc thực tế 38,9m². Trong diện tích đất 38,9m², anh D chỉ xây dựng cột căn nhà trước lấn ranh giới sang qua diện tích đất của bà T là 6,2m²; diện tích đất còn lại 32,7m² là lối đi chung của các hộ dân có căn nhà ở trong khu vực đất tranh chấp, anh D không có lấn ranh giới đất của bà T. Do đó, Tòa án sơ thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T, giao cho anh D được tiếp tục sử dụng diện tích đất 6,2m² mà anh D đã xây dựng cột căn nhà trước lấn ranh giới sang qua diện tích đất của bà T và buộc anh D có nghĩa vụ thanh toán giá trị diện tích đất 6,2m² cho bà T theo giá thị trường bằng 37.200.000 đồng (Ba mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng), là hợp tình và hợp lý. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và không rút đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Qua các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng: Tòa án sơ thẩm xác định anh Lý Công L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đứng về phía nguyên đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, cả nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn khác đều xác định anh L đã chết trước khi Tòa án sơ thẩm thụ lý vụ án. Như vậy, Tòa án sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng của anh L
4
không đúng quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng sai sót này của Tòa án sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án, nên Tòa án phúc thẩm không hủy bản án sơ thẩm mà chỉ nhận định để Tòa án sơ thẩm rút kinh nghiệm khi xây dựng hồ sơ vụ án và đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng trong vụ án.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Thạch Thị T khởi kiện cho rằng bị đơn anh Thái D sử dụng đất lấn ranh giới qua diện tích đất của bà T thuộc thửa số 1914, loại đất cây lâu năm, tờ bản đồ số 01 (Theo tư liệu năm 2004, thuộc thửa số 230, tờ bản đồ số 79), tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh khoảng 40,6m² (Đo đạc thực tế là 38,9m²). Tuy nhiên, theo tư liệu đo đạc năm 2004 thì trong diện tích đất 38,9m² mà bà T khởi kiện anh D, có diện tích đất 32,7m² thuộc lối đi công cộng (Đất hẻm) dành cho những người có diện tích đất ở bên trong đi ra vào đường Đ (BL 71, 121, 161, 179, 181, 182, 187, 188, 192, 194). Theo lời khai của những người sinh sống và sử dụng đất ở khu vực diện tích đất tranh chấp như: anh M, chị L1, bà H1, chị D1, chị Đ Ra và anh R1 đều xác định trong diện tích đất bà T tranh chấp với anh D, có một phần diện tích đất lối đi công cộng có chiều ngang là 01 mét. Mặt khác, ngày 05/8/2022 Văn phòng Đ1 chi nhánh thành phố T có thông báo yêu cầu bà T nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để điều chỉnh giảm diện tích do thu hồi đất thực hiện công trình đường Đ nối dài (BL 429).
[3] Qua kết quả đo đạc theo hiện trạng thực tế sử dụng đất của anh D, thể hiện: Anh đã xây dựng cột căn nhà trước lấn sang qua diện tích đất của bà T thuộc thửa số 230, tờ bản đồ số 79 là 6,2m². Phần diện tích đất còn lại 32,7m² là đất thuộc lối đi công cộng (Đất hẻm), anh D không có sử dụng lấn ranh giới sang qua diện tích đất của bà T (BL 283, 284). Cho nên, Tòa án sơ thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T đối với diện tích đất 6,2m² mà anh D đã sử dụng lấn qua diện tích đất của bà T. Và do anh D đã xây dựng cột căn nhà trước, nên Tòa án sơ thẩm công nhận cho anh D được tiếp tục sử dụng diện tích đất 6,2m²; buộc anh D có nghĩa vụ thanh toán giá trị diện tích đất 6,2m² cho bà T theo giá thị trường tại địa phương với số tiền bằng 37.200.000 đồng (Ba mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng), là hợp tình, hợp lý và có căn cứ. Vì vậy, bà T kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T, là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm, là có căn cứ.
[5] Về án phí: Do bà T là người cao tuổi, thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà T có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, được Tòa án sơ thẩm chấp nhận, nên Tòa án phúc thẩm không xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Thạch Thị T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 93/2023/DS-ST, ngày 26-12-2023 của Tòa án nhân dân thành phố T.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị T.
- Công nhận cho anh Thái D được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất 6,2m² (Ký hiệu K), thuộc một phần thửa số 230, loại đất ở và trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 79, tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Đất có tứ cận và kích thước như sau:
- Hướng Đông giáp Phần ký hiệu B (Đường đất), kích thước 0,98 mét;
- Hướng Tây giáp thửa số 03, kích thước 0,05 mét;
- Hướng Nam giáp Phần ký hiệu P, kích thước 12,20 mét;
- Hướng Bắc giáp Phần ký hiệu A, kích thước 12,27 mét.
(Có sơ đồ kèm theo)
- Buộc anh Thái D có nghĩa vụ trả cho bà Thạch Thị T giá trị diện tích đất 6,2m², với số tiền bằng 37.200.000 đồng (Ba mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Buộc bà Thạch Thị T phải chịu số tiền bằng 7.924.200 đồng (Bảy triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn hai trăm đồng), nhưng được trừ vào số tiền bà Thạch Thị T đã nộp tạm ứng trước bằng 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng), nên không phải nộp tiếp. Bà Thạch Thị T đến Tòa án nhân dân thành phố T nhận lại số tiền nộp tạm ứng còn thừa bằng 151.600 đồng (Một trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm đồng).
Buộc anh Thái D phải chịu số tiền bằng 7.924.200 đồng (Bảy triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn hai trăm đồng), để hoàn trả cho bà Thạch Thị T.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Thạch Thị T.
Buộc anh Thái D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 1.860.000 đồng (Một triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).
Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Thạch Thị T.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi
6
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đê |
7
Bản án số 141/2024/DS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 141/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Thạch Thị T với ông Thái D
