Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1407/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16/4/2024

V/v tranh chấp ly hôn


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng.
  2. Bà Nguyễn Thị Lượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2265/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 914/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 1610/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1991 (Có đơn xin vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Số B T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ tạm trú: 51/63 Đường số A, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Ông Trần Văn Hồng T1, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Số B T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh


NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà và ông Trần Văn H T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân phường L, quận T chứng nhận ngày 15/10/2014.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại địa chỉ: Số B T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống vợ chồng từ năm 2016 cho đến nay không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân xuất phát từ việc ông T1 không chung thủy, thường xuyên nhậu nhẹt, cá độ đá bóng, không có trách nhiệm trong việc chăm lo cho cuộc sống của gia đình. Hiện hai người không còn sống chung với nhau. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Bà và ông T1 có 02 con chung chưa thành niên tên Trần Nguyễn Minh T2, sinh ngày 17/11/2014 và Trần Nguyễn Bảo T3, sinh ngày 05/8/2017. Hiện trẻ Trần Nguyễn Minh T2 đang sống chung với bà. Trẻ Trần Nguyễn Bảo T3 đang sống chung với ông T1. Bà yêu cầu được nuôi trẻ Trần Nguyễn Minh T2, đồng ý giao trẻ Trần Nguyễn Bảo T3 cho ông T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T1 và bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có

* Bị đơn ông Trần Văn Hồng T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không lấy lời khai của ông T1 được.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc được ly hôn ông Trần Văn Hồng T1; giao giao con chung tên Trần Nguyễn Minh T2, sinh ngày 17/11/2014 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung Trần Nguyễn Bảo T3, sinh ngày 05/8/2017 cho ông Trần Văn H T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T1 và bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn. Bị đơn ông Trần Văn Hồng T1 có nơi cư trú tại địa chỉ: Số B T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Trần Văn Hồng T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T1.

Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt, không tham gia phiên tòa. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn Hồng T1 tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 01/2014 ngày 15/10/2014. Do đó, căn cứ Luật hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa ông T1 và bà T là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được ly hôn ông Trần Văn Hồng T1, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào lời khai của đương sự có thể khẳng định mâu thuẫn gia đình của ông T1 và bà T đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa ông T1 và bà T không tồn tại tình cảm vợ chồng, không có sự yêu thương, quan tâm, chia sẻ và cùng nhau thực hiện các công việc trong gia đình do hai người đã không còn sống chung với nhau. Bản thân ông T1 cũng không thể hiện thiện chí trong việc muốn duy trì quan hệ hôn nhân vì ông đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng tại Toà nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà T. Vì vậy, để ổn định cuộc sống cho các bên đương sự, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc được ly hôn ông T1.

- Về con chung: Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cùng lời khai của đương sự thể hiện ông T1 và bà T có 02 người con chưa thành niên tên Trần Nguyễn Minh T2, sinh ngày 17/11/2014 và Trần Nguyễn Bảo T3, sinh ngày 05/8/2017. Bà T yêu cầu được nuôi trẻ Trần Nguyễn Minh T2, đồng ý giao trẻ Trần Nguyễn Bảo T3 cho ông T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét nguyện vọng và phải đảm bảo sự phát triển tốt mọi mặt của con chưa thành niên. Tại bản tự khai, trẻ Trần Nguyễn Minh T2 trình bày nguyện vọng được ở với mẹ. Hiện trẻ Trần Nguyễn Minh T2 cũng đang sống chung với bà T. Riêng trẻ Trần Nguyễn Bảo T3 theo lời khai của bà T thì đang sống chung với ông T1. Bản thân ông T1 cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của bà T. Vì vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận việc giao trẻ Trần Nguyễn Minh T2, sinh ngày 17/11/2014 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; giao trẻ Trần Nguyễn Bảo T3, sinh ngày 05/8/2017 cho ông Trần Văn H T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T1, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết quan hệ sản chung, nợ chung.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn 300,000 đồng.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Trần Văn Hồng T1.

- Về con chung: Giao trẻ Trần Nguyễn Minh T2, sinh ngày 17/11/2014 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; giao trẻ Trần Nguyễn Bảo T3, sinh ngày 05/8/2017 cho ông Trần Văn H T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Trần Văn Hồng T1, bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn 300,000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300,000 đồng bà Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004943 ngày 22/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị T đã thi hành xong nghĩa vụ đóng án phí.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyễn Thị T và ông Trần Văn Hồng T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).


Nơi nhận:
  • - Tòa án nhân dân TP . HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức, Tp . HCM;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, Tp . HCM;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ



Lê Thị Minh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1407/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1407/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger