|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 1404/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/4/2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Khê
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Trần Đăng Vạn
2. Ông Mai Thanh Giàu
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: bà Trần Võ Hồng Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2900/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1441/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Dư Thị Kim Y, sinh năm: 1992 (Có mặt)
- Bị đơn: ông Thái Đống Đ, sinh năm: 1984 (Có mặt)
Địa chỉ: 1275/1411 Nguyễn Duy Trinh, tổ 4, khu phố Phước Lai, phường Long Trường, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 0 L, tổ A, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Dư Thị Kim Y trình bày:
Bà và ông Thái Đống Đ chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 87/2015, quyển số 01/2015 ngày 19/10/2015. Sau ngày cưới Bà và ông Đ sống chung tại Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian chung sống, lúc đầu hạnh phúc về sau không hạnh phúc do tính tình hai vợ chồng trái ngược nhau nên thường dẫn đến gây gổ. Hiện nay tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà đã cố gắng hết sức nhưng không thể hàn gắn, đoàn tụ được. Bà xin dứt khoát ly hôn với ông Thái Đống Đ. Về con chung: Có 01 con chung tên Thái Quang H, sinh ngày 29/12/2015. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Thái Quang H và không yêu cầu ông T Đống Đa cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, bị đơn ông Thái Đống Đ trình bày:
Ông và bà Dư Thị Kim Y sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 87/2015, quyển số 01/2015 ngày 19/10/2015. Sau ngày cưới, Ông và bà Y sống chung tại Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian sống chung vợ chồng có một số mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt gia đình nhưng bản thân Ông vẫn còn yêu thương vợ, con nên Ông không đồng ý ly hôn. Về con chung: Có 01 con chung tên Thái Quang H, sinh ngày 29/12/2015. Trường hợp ly hôn, Ông đồng ý giao bà Dư Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Thái Quang H và không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Dư Thị Kim Y vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án chấp nhận đơn ly hôn; bị đơn ông Thái Đống Đ vẫn giữ ý kiến không đồng ý ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ, cấp, tống đạt văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng. Về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Dư Thị Kim Y.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Dư Thị Kim Y và ông Thái Đống Đ tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn (số 87/2015, quyển số 01/2015 cấp ngày 19/10/2015). Nay bà Dư Thị Kim Y khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Thái Đống Đ, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung nên đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bà Dư Thị Kim Y và ông Thái Đống Đ đều có quốc tịch Việt Nam. Tại bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, ông Thái Đống Đ khai nhận hiện đang thực tế cư trú tại địa chỉ: 0 L, tổ A, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Nội dung tranh chấp:
Nguyên đơn xác định Bà và ông Thái Đống Đ không còn hạnh phúc do tính tình vợ chồng trái ngược nhau nên thường dẫn đến gây gổ. Nay Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho Bà được ly hôn với ông Thái Đống Đ. Bị đơn ông Thái Đống Đ xác định vẫn còn thương yêu vợ con nên không đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bà Dư Thị Kim Y và ông Thái Đống Đ chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn 87/2015, quyển số 01/2015 ngày 19/10/2015 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Giữa bà Dư Thị Kim Y và ông Thái Đống Đ trên thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Bà Dư Thị Kim Y và ông Thái Đống Đ do tính cách không hợp nhau dẫn tới thường xuyên cãi vả, gây gổ làm cho cuộc sống hôn nhân mất hạnh phúc. Các bên đã cho nhau nhiều thời gian và cơ hội để hàn gắn, cùng nhau xây dựng cuộc sống hôn nhân nhưng do tính cách không hợp nhau nên đã ly thân từ năm 2023 đến nay.
Bị đơn, ông Thái Đống Đ khai vẫn còn thương yêu vợ con nhưng không có bất cứ động thái hàn gắn cụ thể nào thể hiện thái độ buông bỏ, không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với bà Dư Thị Kim Y. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Dư Thị Kim Y và ông Thái Đống Đ đã rạn nứt không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.
- Về con chung: nguyên đơn xác định Bà và ông Thái Đống Đ có 01 con chung tên Thái Quang H, sinh ngày 29/12/2015. Các bên thỏa thuận, giao trẻ Thái Quang H cho bà Dư Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng và ông Thái Đống Đ không cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không có tài sản chung và nợ chung; bị đơn không có yêu cầu phản tố về phần tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 do Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dư Thị Kim Y với ông Thái Đống Đ.
Giấy chứng nhận kết hôn 87/2015, quyển số 01/2015 ngày 19/10/2015 ngày 13/6/2015 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Thái Đống Đ và bà Dư Thị Kim Y không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: có 01 con chung tên Thái Quang H, sinh ngày 29/12/2015.
Giao con chung là Thái Quang H cho bà Dư Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi; Ông Thái Đống Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom, chăm sóc con chung để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Dư Thị Kim Y phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Dư Thị Kim Y đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0001835 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Thủ Đức. Bà Dư Thị Kim Y đã nộp đủ án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND TPTĐ; - THADS TPTĐ; - Đương sự - Lưu |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Khê |
Bản án số 1404/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1404/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dư Thị Kim Y ly hôn Thái Đống Đa
