|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1400/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03-06-2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Trần Đăng Vạn
- 2/ Ông Mai Thanh Giàu
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh P – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 581/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 4322/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 05 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4323/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 05 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1980.
Địa chỉ: số B Đường số F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Hồ Thế H, sinh năm 1975.
Địa chỉ: số B Đường số F, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 21/02/2025, Bản tự khai ngày 26/3/2025, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày: Bà và ông Hồ Thế H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1996, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 150 quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/9/2005. Trong quá trình chung sống vợ chồng, giữa bà và ông H phát sinh mâu thuẫn. Ông H thường xuyên đánh đập, nhắn tin hăm dọa thậm chí còn đuổi bà và mẹ bà ra khỏi nhà. Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông H ngày càng trầm trọng, bà và ông H đã sống ly thân từ ngày 19/12/2024 cho đến nay. Bà xác định bà không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục chung sống với ông H được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Thế H.
Về con chung: Bà và ông H có 03 con chung là Hồ Thị Mỹ L, sinh ngày 07/8/1996, Hồ Thị Thùy T, sinh ngày 20/6/2001 và Hồ Trọng N, sinh ngày 06/8/2005. Các con chung đều đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông H không có tài sản chung, không có nợ chung.
Bà D có đơn ghi ngày 22/4/2025 đề nghị vắng mặt trong tất cả các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án kể cả phiên xét xử. Bà D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến bà đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Hồ Thế H đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn, người có nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- + Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- + Về việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho bà Lê Thị D được ly hôn với ông Hồ Thế H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến tranh luận của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Lê Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Hồ Thế H; ông H hiện đang cư trú tại địa chỉ số B Đường số F, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Nguyên đơn bà D tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tại phiên tòa, bà D vắng mặt nhưng có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông H.
Đương sự không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng khác, người làm chứng nên Hội đồng xét xử không triệu tập người tham gia tố tụng khác, người làm chứng.
[3] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đương sự không bổ sung tài liệu chứng cứ khác và tại phiên tòa, đương sự cũng không bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
[4] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 150 quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/9/2005, quan hệ hôn nhân giữa bà D, ông H là hợp pháp.
Nguyên đơn bà D cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng, giữa bà và ông H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau thậm chí đánh nhau. Bà và ông H đã sống ly thân từ tháng 12/2024 cho đến nay. Bà xác định bà không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với ông H nữa nên bà yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông H.
Bị đơn ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H không đến Tòa án để tham gia tố tụng, tham gia phiên tòa. Điều này cho thấy, ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ chồng. Ông H cũng không cung cấp cho Tòa án bất kỳ tài liệu chứng cứ nào thể hiện tình trạng mâu thuẫn vợ chồng mà bà D trình bày là không đúng
Mặt khác, theo nội dung Văn bản số 411/UBND ngày 14/3/2025 của Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì giữa bà D, ông H đã có mâu thuẫn từ lâu do ông bà thường xuyên cãi cã, có hành vi hành hung lẫn nhau.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định trong quá trình chung sống vợ chồng giữa bà D, ông H có phát sinh mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng. Tuy là vợ chồng nhưng giữa bà D, ông H không sống chung, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà D yêu cầu được ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Về con chung: Căn cứ lời khai của đương sự phù hợp với nội dung Giấy khai sinh số 241 quyển số 02/96 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận A cấp ngày 15/8/1996, Giấy khai sinh số 165 quyển số 01/2001 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B cấp ngày 12/7/2001 và Giấy khai sinh số 285 quyển số 02/2005 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B cấp ngày 27/9/2005, có cơ sở xác định bà D, ông H có 03 con chung là Hồ Thị Mỹ L, sinh ngày 07/8/1996, Hồ Thị Thùy T, sinh ngày 20/6/2001 và Hồ Trọng N, sinh ngày 06/8/2005. Tính đến thời điểm xét xử các con chung của bà D, ông H đã trưởng thành; bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm 1.1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nguyên đơn bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị D ly hôn ông Hồ Thế H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 150 quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/9/2005 cho bà Lê Thị D, ông Hồ Thế H không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 03 con chung Hồ Thị Mỹ L, sinh ngày 07/8/1996, Hồ Thị Thùy T, sinh ngày 20/6/2001 và Hồ Trọng N, sinh ngày 06/8/2005. Các con chung đều đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Bà D xác định không có.
- Về nợ chung: Bà D xác định không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn: 300.000 đồng, bà Lê Thị D phải chịu, được cấn trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí bà D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0083597 ngày 14/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hợi |
Bản án số 1400/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1400/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà D yêu cầu ly hôn ông H
