TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 140/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 – 7 – 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Việt Khái.
- Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên toà: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 185/2024/TLST - HNGĐ ngày 03/6/2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Mỹ N, sinh năm 1996; Địa chỉ: ấp 1, xã Tân Lộc B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Mai Văn N1, sinh năm 1990; Địa chỉ: ấp Cái B, xã Tân Hưng, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Nguyễn Mỹ N và anh Mai Văn N1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lộc B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào năm 2017. Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến việc vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, từ đó đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N1.
Về con chung, chị N khai có 01 người con là Mai Phúc Thịnh, sinh ngày 26/6/2017. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, chị N khai không có.
Đối với anh Mai Văn N1, tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N, riêng chị N đã có lời khai và nộp đơn xin xét xử vắng mặt vào ngày 19/6/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về thủ tục tố tụng, anh Mai Văn N1 đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, riêng chị N đã có lời khai và nộp đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc làm ăn, việc xin phép nơi làm việc nghỉ để tham gia phiên tòa rất khó khăn nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của chị N và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh N1.
- Về hôn nhân, anh N1 và chị N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2017 nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do anh N1 không trực tiếp đến Tòa cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N nên lời trình bày của chị N về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn được chấp nhận.
Cũng chính từ mâu thuẫn trên, chị N xác định không còn tình cảm với anh N1 nên có căn cứ để nhận định rằng tình trạng hôn nhân giữa anh N1 với chị N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu của chị N về việc xin ly hôn với anh N1 là có cơ sở.
- Về con chung là Mai Phúc Thịnh, sinh ngày 26/6/2017. Khi ly hôn, chị N có yêu cầu được nuôi và không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con, riêng anh N1 cũng không có ý kiến gì về yêu cầu trên.
Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Do anh N1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản ý kiến cho Tòa xem xét nên chưa có cơ sở để khẳng định việc giao con cho anh N1 nuôi dạy sẽ đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con. Hơn nữa, việc ly hôn giữa anh chị đã phần ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường và tâm lý của con nên tiếp tục giao con cho chị N nuôi dưỡng là hợp lý.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con, đảm bảo cho cuộc sống của con được đầy đủ, tốt hơn và thể hiện được trách nhiệm, tình thương của người làm cha, làm mẹ đối với con cái nhưng chị N không đặt ra yêu cầu – Đây là ý chí tự nguyện, quyền tự định đoạt của chị N. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt xem xét về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung, chị N khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, chị N phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 144, 147, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Mỹ N về việc xin ly hôn anh Mai Văn N1.
- Về con chung là Mai Phúc Thịnh, sinh ngày 26/6/2017. Khi ly hôn, tiếp tục giao con cho chị Nguyễn Mỹ N chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm anh Mai Văn N1 cấp dưỡng nuôi con.
- Anh Mai Văn N1 có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung, chị Nguyễn Mỹ N khai không có, nên không đặt ra xem xét.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Nguyễn Mỹ N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 03/6/2024, chị N đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0003561 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Chị N, anh N1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lâm Hoài Ân |
3
Bản án số 140/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 140/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Mỹ N và anh Mai Văn N1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lộc B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào năm 2017. Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến việc vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, từ đó đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N1.
