Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2024/HS-ST

Ngày 29-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bích Ngọc - Cán bộ nghỉ hưu

Bà Phạm Thị Thanh Hiên – Giáo viên nghỉ hưu

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nự- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 597/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn V, sinh ngày 27 tháng 7 năm 2007 tại Điện Biên (khi phạm tội bị cáo 16 tuổi, 8 tháng, 15 ngày). Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã C, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi sinh sống: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K và bà Cà Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 12/4/2024; tạm giam ngày 17/4/2024, có mặt;

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Cà Thị T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do, có mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1984 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 ngày 12/4/2024, Công an phường Đ, quận L, Hải Phòng làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ B Chợ H, phường Đ, quận L, Hải Phòng phát hiện Lò Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA BKS: 16H2-5083 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra, Lò Văn V thả từ lòng bàn tay trái xuống đất sát vị trí đang đứng 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy. Tổ công tác thu giữ gói giấy màu vàng và đưa Lò Văn V cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của Lò Văn V 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA BKS: 16H2-5083.

Tại Kết luận giám định số 454/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, khối lượng: 0,23 gam là loại Heroine”.

Tại cơ quan điều tra, Lò Văn V khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/4/2024, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 16H2-5083 một mình đi tới khu vực chắn tàu T, quận L, Hải Phòng để tìm ma tuý heroine về sử dụng. Khi đến nơi, V gặp và thoả thuận mua 200.000 đồng ma tuý của một nam giới không rõ nhân thân, lai lịch. V đưa cho người nam giới 200.000 đồng rồi đi theo người này vào trong ngõ B Chợ Hàng, phường Đ khoảng 50 mét. Người nam giới dừng lại bảo V đứng đợi, khoảng 01 phút sau người nam giới quay lại đưa cho V 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa ma tuý heroine rồi bỏ đi đâu không rõ. V cầm gói giấy vàng trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi ra đầu ngõ 23 Chợ Hàng, phường Đ, L, Hải Phòng tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang. Khi bị kiểm tra, V đã thả gói ma tuý trong lòng bàn tay trái xuống đất sát vị trí V đang đứng.

Tại bản Cáo trạng số 148/CT-VKSLC ngày 12/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Lò Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 16H2-5083, kết quả điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Vũ Văn T1, sinh năm 1985, trú tại: Xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ngày 12/4/2024, ông T1 cho Lò Văn V mượn chiếc xe trên đi giải quyết công việc cá nhân, ông T1 không biết V sử dụng xe để đi mua ma tuý. Ngày 06/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông T1.

Tại phiên toà, bị cáo Lò Văn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Người đại diện của bị cáo là bà Cà Thị T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo chưa thành niên, chưa hiểu biết pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị

Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lò Văn V mức án từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (16 tuổi, 8 tháng 15 ngày) nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn V trình bày quan điểm:

Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi dẫn đến việc hạn chế nhận thức về mọi mặt của đời sống xã hội cũng như pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 52; Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức án mà Viện kiểm sát đề nghị để đảm bảo mục đích giáo dục, giúp đỡ người phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Quan điểm của người bào chữa sẽ được Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc trong quá trình xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 12/4/2024, tại khu vực đầu ngõ B Chợ Hàng phường Đ, L, Hải Phòng, Lò Văn V có hành vi cất giữ trái phép 0,23 gam heroin với mục đích sử dụng cho bản thân và bị bắt quả tang. Hành vi của

bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 861QĐ/TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ dẫn đến hạn chế về nhận thức pháp luật, nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[6] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo và đề nghị của người bào chữa của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng xét tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, cần có hình phạt nghiêm. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 101, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi (16 tuổi, 8 tháng, 15 ngày) nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt áp dụng đối với bị cáo không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận L đang quản lý 01 phong bì niêm phong số ma tuý và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định có số 454MT/PC09 của Phòng K1 - Công an thành phố H. Xét thấy vật chứng này liên quan đến việc phạm tội, là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy;

[9] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố: Lò Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số ma tuý và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định số 454MT/PC09 của Phòng K1 - Công an thành phố H (Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 13/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 29/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 140/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Việt TTTPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger