|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 140/2023/HS-ST
Ngày 28-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Ngọc Nguyên
- 2. Bà Trần Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Trần Anh Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2023/TLST-HS, ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2023/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Tiến S, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1991 tại thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Tạm trú: số 1030/18, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con bà Võ Thị Ơ, cha không xác định; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: từ nhỏ đến lớn sống chung với mẹ tại phường M, thành phố L, học đến lớp 9 thì nghỉ.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 18 tháng 8 năm 2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Võ Thị H, sinh năm 1967
Cư trú: số 1030/18, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm 1986
Cư trú: số A đường N, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt) - Ông Nguyễn Văn Ý, sinh năm 2000
Cư trú: ấp S, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt, có đơn xin vắng) - Ông Nguyễn Văn H1 - Chủ hộ kinh doanh cầm đồ Việt Thịnh.
Cư trú: số 180, đường Nguyễn Văn Cừ, khu phố 8, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Võ Hồng L (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 11 tháng 01 năm 2023, Võ Tiến S đang ở nhà tại số A, khóm Đ, phường M, thành phố L thì thấy bà Võ Thị H (là dì của S) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI màu đỏ đen, biển số 67B2-200.15 đi chợ về dựng trong sân, chìa khóa xe để vào tủ nhựa cạnh phòng ngủ nên nảy sinh ý định lấy trộm. Thực hiện ý định, S mở tủ lấy chìa khóa dẫn xe ra khỏi nhà điều khiển đến quận T, thành phố Cần Thơ thì mở cốp yên xe thấy có căn cước công dân, giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Võ Thị H và 13.720.000 đồng. S lấy số tiền này đến thành phố S, tỉnh Đồng Tháp mua quần, áo, giầy, dép rồi điều khiển xe đến các tỉnh, thành như thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, tỉnh Quảng Ninh chơi. Đến ngày 26 tháng 01 năm 2023, S về thành phố P, tỉnh Kiên Giang chơi đến ngày 03 tháng 3 năm 2023 thì tiêu xài hết tiền nên nhờ Nguyễn Văn Ý (bạn của S) đi cầm giùm xe mô tô và nói dối với Ý là xe Sĩ mua lại của người Dì. Tin là thật, nên Ý mang xe đến tiệm C tại số A, đường N, khu phố H, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cầm cho bà Nguyễn Thị Thùy V được 15.000.000 đồng rồi đưa cho S. S dùng số tiền này mua điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A04 với giá 3.490.000 đồng, mua xe mô tô kiểu dáng Wave Trung Quốc của người không rõ họ tên, địa chỉ với giá 2.600.000 đồng, số tiền còn lại Sĩ tiêu xài hết. Đến ngày 15 tháng 5 năm 2023, S quay về nhà thì bị Công an phường M mời làm việc và S thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của bà H như nội dung đã nêu.
Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 192/KL.HĐ, ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, xác định: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu H2, biển số 67B2-200.15, trị giá 16.520.000 đồng.
Cáo trạng số: 143/CT-VKS, ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Võ Tiến S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Võ Tiến S từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo S bồi thường cho bà Võ Thị H số tiền 30.240.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Tiến S khai nhận: do cần tiền tiêu xài nên đã lén lút lấy trộm tài sản của dì ruột là bà Võ Thị H như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo thống nhất bồi thường cho bà H số tiền 30.240.000 đồng, bị cáo tranh luận lại với đại diện Viện kiểm sát về hình phạt, bị cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đối với, việc bị cáo xin được hưởng án treo thì đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã đề nghị và không tranh luận thêm.
Bị hại Võ Thị H trình bày: Ngày 11/01/2023 bà H bị mất trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI màu đỏ đen, biển số 67B2-200.15 như nội dung vụ án đã nêu. Bà H yêu cầu bị cáo S phải bồi thường cho bà số tiền 30.240.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy V trình bày: Ngày 04/3/2023, bà V có nhận cầm 01 xe mô tô Honda Future FI, khi cầm bà không biết xe do S trộm mà có. Hiện xe này ở đâu bà không rõ, vì sau khi hết thời gian chuộc xe theo hợp đồng thì bà đã xử lý xe để thu hồi vốn, phương thức xử lý bà không nhớ vì đã lâu và không lưu lại giấy tờ chứng minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Ý vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại cũng không có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của những người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Theo giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 56L8017057 do Phòng Tài chính Kế hoạch thành phố P thể hiện Hộ kinh doanh cầm đồ V do ông Nguyễn Văn H1 là chủ hộ, lẽ ra cần ghi nhận ý kiến của ông H1 về những vấn đề có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, theo lời khai của bà Nguyễn Thị Thùy V và Văn bản ủy quyền ngày 19/12/2022 do bà V cung cấp thì ông H1 đã ủy quyền cho bà V toàn quyền quyết định các công việc liên quan đến hoạt động của Hộ kinh doanh cầm đồ V, số tiền cầm xe là tiền của bà V. Do đó, việc Cơ quan cảnh sát điều tra không ghi nhận ý kiến của ông H1 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Trường hợp ông H1 có tranh chấp về vấn đề gì có liên quan đến việc cầm xe này thì được quyền khởi kiện trong vụ án khác theo quy định.
[3] Về trách nhiệm hình sự:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp lời trình bày của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và còn phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Đủ căn cứ xác định Võ Tiến S đã lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của bà H1 trong việc quản lý tài sản để lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI màu đỏ đen, biển số 67B2-200.15 của bà H1, qua định giá xác định giá trị tài sản là 16.520.000 đồng, đồng thời sau khi trộm được xe bị cáo còn phát hiện trong cốp xe có số tiền 13.720.000 đồng và đã lấy số tiền này tiêu xài cá nhân. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bà H1 là 30.240.000 đồng. Hành vi của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là có căn cứ.
Đối với, bà Nguyễn Thị Thùy V và ông Nguyễn Văn Ý không biết xe mô tô do bị cáo lấy trộm mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự những người này về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.
[4] Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có đủ sức khỏe để tìm việc làm chân chính, tạo ra thu nhập lo cho bản thân và gia đình nhưng với bản chất lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà bị cáo đã lén lút thực hiện hành trộm cắp tài sản của chính dì ruột mình để bán lấy tiền tiêu xài, đồng thời khi phát hiện trong cốp xe mà bị cáo trộm có số tiền 13.720.000 đồng của bà H1 thì bị cáo cũng chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân, thể hiện bị cáo rất manh động, liều lĩnh và xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã gây tâm lý lo lắng trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, tuân thủ pháp luật, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 30.240.000 đồng.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Tiến S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Võ Tiến S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 8 năm 2023.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự 2015.
Buộc bị cáo Võ Tiến S bồi thường cho bà Võ Thị H số tiền 30.240.000 đồng (Ba mươi triệu, hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Võ Tiến S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.512.000 đồng (Một triệu, năm trăm mười hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)
|
Nơi nhận:
6 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Chiền |
7
Bản án số 140/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 140/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
