|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 140/2024/HSST Ngày: 26-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Bình
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Anh
Ông Nguyễn Văn Được
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lê Văn H, tên gọi khác: không, sinh ngày 07/01/2007 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H1, sinh năm 1977 (còn sống) và bà Đào Thị Diệu L, sinh năm 1985 (còn sống); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền sự: không.
- Họ và tên: Nguyễn Phúc K, tên gọi khác: không, sinh ngày 03/3/2007 tại Bình Dương; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Chổ ở hiện nay: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phúc T, sinh năm 1973 (còn sống) và bà Võ Thị Bích H2, sinh năm 1972 (Còn sống); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền sự: không.
- Họ và tên: Nguyễn Thanh P, tên gọi khác: không, sinh ngày 02/10/2007 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1964 (còn sống) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1982 (Còn sống); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền sự: không.
- Họ và tên: Nguyễn Tuấn T2, tên gọi khác: không, sinh ngày 02/02/2008 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1979 (còn sống) và bà Đỗ Thị L2, sinh năm 1983 (Còn sống); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền sự: không.
- Họ và tên: Nguyễn Minh N, tên gọi khác: không, sinh ngày 14/01/2007 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hòa A, sinh năm 1980 (còn sống) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1985 (Còn sống); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền sự: không.
Các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H: Bà Trần Thị N1 – Luật sư Văn phòng L5, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Tuấn T2: Bà Hoàng Thị H3 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phúc K, Nguyễn Minh N, Nguyễn Thanh P: Bà Trần Thị L3 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
Người bị hại:
- Bà Hồ Thị Kim D – SN: 1979; Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình phước. (vắng mặt)
- Ông Trương P1 – SN: 1959; Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình phước. (vắng mặt)
- Bà Trần Kim H4 – SN: 1970; Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình phước. (vắng mặt)
- Ông Mông Thế Đ - SN: 1964; Trú tại: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình phước. (vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Duy Đ1 – SN: 2007; Trú tại: Ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình phước. (vắng mặt)
- Bà Đỗ Thị L2 – SN: 1983; Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
- Ông Nguyễn Thanh T1 – SN: 1964; Trú tại: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
- Bà Đào Thị Diệu L – SN: 1985; Trú tại: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
- Bà Võ Thị Bích H2 - SN: 1972; Trú tại: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị B – SN: 1985; Trú tại: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/07/2024 và ngày 14/07/2024, các bị cáo Lê Văn H, sinh ngày 07/01/2007 cùng Nguyễn Thanh P, sinh ngày 02/10/2007, Nguyễn Phúc K, sinh ngày 03/03/2007, Nguyễn Tuấn T2, sinh ngày 02/02/2008, Nguyễn Minh N, sinh ngày 14/01/2007 thực hiện các vụ cướp giật vé số của người bán vé số dạo cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09/7/2024 Nguyễn Thanh P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario màu trắng, biển số 93P3-057.36 chở Lê Văn H đi chơi do không có tiền tiêu sài cá nhân nên H nảy sinh ý định cướp giật vé số của những người bán vé số dạo, H rủ P đi giật vé số của những người đi bán vé số dạo để dò trúng thì đổi lấy tiền tiêu xài thì P đồng ý. P chở H đi lòng vòng khu vực phường T để kiếm người bán vé số dạo, khi đến đoạn đường T (gần đài truyền hình) thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì thấy ông Trương P1 đang đi bộ bán vé số. Lúc này H nói P chạy lại gần giả vờ hỏi mua vé số, khi H hỏi mua, ông P1 đưa cho H 55 tờ vé số của đài V thì P ngay lập tức tăng ga bỏ chạy. Đến 21 giờ cùng ngày, H, P dò vé số trúng được 03 tờ có dãy số 137992 trúng thưởng giải 8, tổng cộng được 300.000đồng, P cất giữ 03 tờ vé số trúng, 52 tờ không trúng Phong, H vứt đi (thu giữ được 03 tờ vé số trúng).
Vụ thứ hai: Đến ngày 14/7/2024. H mượn xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen trắng biển số 93PA-077.29 của Vũ Duy Đ1 còn Nguyễn Minh N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, đến bãi cỏ đối diện Ủy ban tỉnh Bình Phước để uống nước. Tại đây H rủ N đi giật vé số để dò nếu trúng lấy tiền tiêu xài cá nhân thì N đồng ý, sau đó N nói H rủ thêm Nguyễn Tuấn T2 và Nguyễn Phúc K, cùng đi giật vé số, cả 04 người tập trung tại nhà của K tại khu phố B, phường T, thành phố Đ, Bình Phước H5 nói dối là vài ngày trước H5 có giật vé số của người bán vé số dạo trúng được 2.000.000đồng với mục đích là rủ T2, N, K đi giật vé số với H5. Sau đó, H5, T2, N, K thống nhất là cùng nhau đi cướp giật vé số của những người bán dạo. K chở H5 bằng xe máy nhãn hiệu Exiter biển số 93PA-077.29, còn T2 chở N bằng xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125 màu đen biển số 93K1-297.95 đi lòng vòng ở khu vực thành phố Đ tìm kiếm người bán vé số dạo.
Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, K chở H5, T2 chở N đi đến khu vực đường H, thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì thấy ông Mông T4 Đoàn ngồi trên xe lăn là người không có khả năng tự vệ, (ông Đ được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ cấp giấy xác nhận khuyết tật mức độ nặng, Chủ Tịch UBND thành phố Đồng Xoài Quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng cho người khuyết tật), K điều khiển xe đến chỗ ông Đ, H5 giả vờ hỏi mua vé số, ông Đ đưa cho H5 16 tờ vé số; T2 chở N đứng sát ngay sau H5 với K. Sau khi cầm được vé số thì H5 đá chân của K nên K tăng ga bỏ chạy, T2 chở N chạy theo. H5 bỏ 16 tờ vé số vào ví, (thu giữ được 16 tờ vé số).
Vụ thứ ba: Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô chở H5 đi đến đoạn đường đối diện bến xe T thuộc khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì thấy bà Hồ Thị Kim D đi xe đạp bán vé số, H5 nói K chạy lại gần, H5 hỏi mua vé số thì bà D đưa cho H5 40 tờ vé số để chọn, sau khi cầm được vé số thì H5 đá vào chân của K, K tăng ga bỏ chạy. Sau khi lấy được vé số H5 bỏ vào ví, (thu giữ được 40 tờ vé số).
Vụ thứ tư: Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, K chở H5 đến trước cổng Ủy ban nhân dân thành phố Đ thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì thấy bà Trần Kim H4 đang đậu xe 03 bánh ở lề đường bán vé số. H5 và K đứng cách xa người bán vé số khoảng 50 mét để quan sát người đi đường, chờ đến khi vắng người thì K điều khiển xe đến gần bà H4, H5 giả vờ hỏi mua vé số, bà H4 đưa cho H5 khoảng 127 tờ vé số, H5 cầm được vé số thì đá chân K, K tăng ga bỏ chạy, H5 bỏ vé số vào túi quần và đi về nhà K.
Cùng ngày 14/07/2024, bà Trần Thị Kim H6, ông Trương P1, ông Mông Thế Đ, bà Hồ Thị Kim D đến Công an thành phố Đ trình báo sự việc.
Đến 08 giờ ngày 15/07/2024, Nguyễn Tuấn T2 và Lê Văn H đến Công an thành phố Đ đầu thú.
Đến 10 giờ 00 phút ngày 15/07/2024, Công an thành phố Đ bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thanh P, Nguyên Phúc K1, Nguyễn Minh N.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 48 ngày 19/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 238 tờ vé số của các đài miền nam vào ngày 09/07/2024 và ngày 14/07/2024 vé số chưa dò, trước khi có kết quả dò sổ số trị giá 2.380.000 đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng)
- Vật chứng thu giữ:
+ Tạm giữ khi Lê Văn H ra đầu thú: 01 điện thoại Samsung galaxy A54; 106 tờ vé số đài tiền Giang ngày 14/07/2024, 77 tờ vé số đài Đà Lạt ngày 14/07/2024; 01 đôi dép xỏ ngón màu đen; 01 áo thun màu đen, sau lưng có ghi chữ “ADIDAS”; 01 quần tây đen.
+ Tạm giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thanh P: 03 tờ vé số đài B1 ngày 09/07/2024 có dãy số 137992; 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da Vario biển số 93P3-057.36, màu đen trắng.
+ Giữ người trong trường hợp khẩn cấp Nguyễn Phúc K thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen.
+ Giữ người trong trường hợp khẩn cấp Nguyễn Minh N thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen.
+ Ngày 15/07/2024, Vũ Duy Đ1 giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 93PA-077.29, 03 vỏ nhựa, dàn áo xe mô tô exciter, màu trắng; Đỗ Thị L2 giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa SH biển số 93K1-297.95 màu đen.
- Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã xử lý vậ chứng, trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 93PA-077.29, 03 vỏ nhựa, dàn áo xe mô tô exciter, màu trắng cho anh Vũ Duy Đ1; Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa SH biển số 93K1-297.95 màu đen cho chị Đỗ Thị L2; Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario biển số 93P3-057.36, màu đen trắng cho anh Nguyễn Thanh T1.
Về dân sự: Bị hại Hồ Thị Kim D, Trần Thị Kim H6, đã nhận bồi thường của gia đình Lê Văn H, Nguyễn Phúc K nên không có yêu cầu gì thêm. Bị hại Mông Thế Đoàn đã nhận bồi thường của gia đình Lê Văn H, Nguyễn Phúc K, Nguyễn Minh N, Nguyễn Tuấn T2 nên không có yêu cầu gì; Bị hại Trương P1 đã nhận bồi thường của gia đình Lê Văn H Nguyễn Thanh P nên không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 141/CT-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015; Truy tố các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Phúc K, Nguyễn Tấn T5, Nguyễn Minh N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Lê Văn H mức án từ 16 đến 18 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc K mức án từ 14 đến 16 tháng tù.
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58, Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 65; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T5 và Nguyễn Minh N mức án từ 12 đến 14 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 65; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P mức án từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên; Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép xỏ ngón màu đen quai dép có chữ HAVAIANAS, 01 áo thun màu đen sau lưng có ghi chữ “ADIDAS”, 01 quần tây đen. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phúc K 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh N 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen, trả lại cho bị cáo Lê Văn H 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A54 màu đen.
Lưu trữ theo hồ sơ vụ án 03 tờ vé số đài B1 ngày 09/7/2024 có dãy số “0137992”; 106 tờ vé số đài Tiền Giang ngày 14/7/2024; 77 tờ vé số đài Đ ngày 14/7/2024.
Quan điểm của những người bào chữa cho các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Phúc K, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Tuấn T2, Nguyễn Minh N: Thống nhất quan điểm về tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo H và T2 đã ra đầu thú, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại và người bị hại đã có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi và đang đi học, ngoài ra bị cáo P có ông ngoại là người có công với cách mạng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử các bị cáo Nguyễn Thanh P 09 tháng tù cho hưởng án treo, Nguyễn Minh N 09 tháng tù cho hưởng án treo, Nguyễn Tuấn T2 12 tháng tù cho hưởng án treo, đối với bị cáo Lê Văn H cho được hưởng mức án 12 tháng tù; Đối với bị cáo Nguyễn Phúc K cho được hưởng mức án 9 tháng tù.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố các bị cáo.
[3] Về tội danh, điều luật áp dụng: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận; Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 09/07/2024 bị cáo Lê Văn H cùng Nguyễn Thanh P thực hiện 01 vụ cướp giật 55 tờ vé số của ông Trương P1 tại Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, trị giá 550.000đồng. Vào ngày 14/07/2024 bị cáo H cùng với các bị cáo Nguyễn Tuấn T2, Nguyễn Phúc K, Nguyễn Minh N thực hiện 01 vụ cướp giật 16 tờ vé số của ông Mông Thế Đ là người không có khả năng tự vệ, (ông Đ được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ cấp giấy xác nhận khuyết tật mức độ nặng, Chủ Tịch UBND thành phố Đồng Xoài Quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng cho người khuyết tật), tài sản chiếm đoạt trị giá 160.000đồng. Cùng ngày 14/7/2024 bị cáo H cùng K thực hiện 02 vụ cướp giật: Cướp giật 40 tờ vé số của bà Hồ Thị Kim D tại khu phố T, phường T, thành phố Đ tỉnh Bình Phước, tài sản chiếm đoạt trị giá 400.000đồng; Cướp giật 127 tờ vé số của bà Trần Kim H6 tại Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, trị giá 1.270.000đồng. Tổng trị giá tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt 2.380.000đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).
Do đó, hành vi của các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Phúc K, Nguyễn Tuấn T2, Nguyễn Minh N và Nguyễn Thanh P đã phạm tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Về tình tiết định khung:
[4.1] Với hành vi nêu trên của các bị cáo H, khang, T2, N xác định: Các bị cáo có hành vi cướp giật 16 tờ vé số của ông Mông Thế Đ là người không có khả năng tự vệ, (ông Đ được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ cấp giấy xác nhận khuyết tật mức độ nặng, Chủ Tịch UBND thành phố Đồng Xoài Quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng cho người khuyết tật). Nên các bị cáo cùng phải chịu tình tiết định khung “Phạm tội đối với người không có khả năng tự vệ” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4.2] Với hành vi nêu trên của bị cáo P, xác định: Bị cáo có hành vi cùng bị cáo Lê Văn H thực hiện 01 vụ cướp giật 55 tờ vé số của ông Trương P1 nên phải chịu tình tiết định khung “1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bản thân các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để chiếm đoạt trái phép tài sản một cách công khai giữa ban ngày, điều này không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm để có tiền thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài cá nhân. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[6] Do đây là vụ án đồng phạm nên cần phân tích, đánh giá vai trò của từng bị cáo để có cơ sở khi quyết định hình phạt.
[6.1] Đối với bị cáo Lê Văn H: Bị cáo là người khởi xướng và là người trực tiếp thực hiện 04 vụ cướp giật tài sản nên H giữ vai trò chính trong vụ án. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[6.2] Đối với bị cáo Nguyễn Phúc K: Bị cáo có vai trò đồng phạm là người thực hành, khi được bị cáo H rủ đi cướp giật tài sản bị cáo đã không can ngăn mà còn hưởng ứng tích cực tham gia cùng bị cáo H thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản. Do đó, cũng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo.
[6.3] Đối với bị cáo Nguyễn Tuấn T2 và Nguyễn Minh N: Các bị cáo có vai trò đồng phạm giúp sức, khi được bị cáo H rủ đi cướp giật tài sản thì các bị cáo đã đồng ý đi cùng với bị cáo H và bị cáo K để thực hiện 01 vụ cướp giật tài sản. Do đó, cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo.
[6.4] Đối với các Nguyễn Thanh P: Bị cáo có vai trò đồng phạm là người thực hành, khi được bị cáo H rủ đi cướp giật tài sản thì các bị cáo đã đồng ý, bị cáo đã dùng xe mô tô chở bị cáo H thực hiện 01 vụ cướp giật tài sản. Do đó, cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để đưa ra mức án phù hợp tương xứng với hành vi của các bị cáo.
[7] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
[7.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Phúc K phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Tuấn T2, Nguyễn Minh N và Nguyễn Thanh P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ như trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục thiệt hại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo H và T2 đã ra đầu thú, ngoài ra bị cáo P có ông ngoại là người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017.
Ngoài ra các bị cáo khi phạm tội đều dưới 18 tuổi (bị cáo Lê Văn H khi phạm tội 17 tuổi, 6 tháng, 02 ngày; Bị cáo Nguyễn Phúc K khi phạm tội 17 tuổi, 4 tháng, 11 ngày; Bị cáo Nguyễn Tuấn T2 khi phạm tội 16 tuổi, 5 tháng, 12 ngày; bị cáo Nguyễn Minh N khi phạm tội 17 tuổi, 06 tháng; Bị cáo Nguyễn Thanh P khi phạm tội 16 tuổi, 9 tháng, 7 ngày) nên cần áp dụng Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét áp dụng hình phạt cho các bị cáo.
[8] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Xét thấy, bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Phúc K mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên bị cáo H là người chủ mưu, bị cáo H và K phạm tội nhiều lần. Do đó, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo H và K khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn T2, Nguyễn Minh N và Nguyễn Thanh P phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, người bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo T2 sau khi phạm tội đã ra đầu thú, các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi và đang đi học, ngoài ra bị cáo P có ông ngoại là người có công với cách mạng. Do đó, để tạo điều kiện cho các bị cáo T2, N và P sớm quay trở lại học tập. Xét, không cần thiết phải cách ly thêm các bị cáo T2, N và P để giáo dục mà chỉ cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[9] Đối với anh Vũ Duy Đ1 cho bị cáo Lê Văn H mượn xe để đi lại, không biết H điều khiển xe để đi cướp giật nên không đề cập xử lý.
Đối với việc bị cáo Nguyễn Tấn T5 tự ý lấy xe mô tô của mẹ là Đỗ Thị L2 để đi cướp giật, bà L2 không biết nên không đề cập xử lý.
Đối với việc bị cáo Nguyễn Thanh P tự ý lấy xe mô tô của bố, mẹ là Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Thanh T1 để đi cướp giật, bà L1, ông T1 không biết nên không đề cập xử lý.
[10] Về vật chứng vụ án:
Cần tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép xỏ ngón màu đen, quai dép có chữ HAVAIANAS; 01 áo thun màu đen sau lưng có ghi chữ “ADIDAS”; 01 quần tây đen, không còn giá trị thu giữ trong quá trình điều tra.
Cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Phúc K 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, do đây là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án.
Cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh N 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen, do đây là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án.
Cần trả lại cho bị cáo Lê Văn H 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A54 màu đen, do đây là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án.
Cần tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án 03 tờ vé số đài B1 ngày 09/7/2024 có dãy số “0137992”; 106 tờ vé số đài Tiền Giang ngày 14/7/2024; 77 tờ vé số đài Đ ngày 14/7/2024 để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[12] Nội dung Kiểm sát viên đề xuất với Hội đồng xét xử như đã nêu tại phần Nội dung vụ án là phù hợp, có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Nội dung người bào chữa đề nghị với Hội đồng xét xử như đã nêu tại phần Nội dung vụ án phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Phúc K, Nguyễn Tuấn T2, Nguyễn Minh N và Nguyễn Thanh P (tên gọi khác: không) phạm tội “Cướp giật tài sản".
- Về hình phạt :
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58, Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15 tháng 7 năm 2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc K 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15 tháng 7 năm 2024.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58, Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 65; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T5 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T6 giao bị cáo Nguyễn Tấn T5 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T6 giao bị cáo Nguyễn Minh N cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58, Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 65; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 9 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T6 giao bị cáo Nguyễn Thanh P cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu các bị cáo Nguyễn Tấn T5, Nguyễn Minh N, Nguyễn Thanh P cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
Trường hợp các bị cáo Nguyễn Tấn T5, Nguyễn Minh N, Nguyễn Thanh P vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58, Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép xỏ ngón màu đen quai dép có chữ HAVAIANAS; 01 áo thun màu đen sau lưng có ghi chữ “ADIDAS”; 01 quần tây đen.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phúc K 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh N 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen.
- Trả lại cho bị cáo Lê Văn H 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A54 màu đen.
- Tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án gồm: 03 tờ vé số đài B1 ngày 09/7/2024 có dãy số “0137992”; 106 tờ vé số đài Tiền Giang ngày 14/7/2024; 77 tờ vé số đài Đ ngày 14/7/2024.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002296; Quyển số 0046; Ký hiệu D47/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Phúc K, Nguyễn Tuấn T2, Nguyễn Minh N và Nguyễn Thanh P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Phúc K, Nguyễn Tuấn T2, Nguyễn Minh N và Nguyễn Thanh P; Người liên quan ông Nguyễn Thanh T1, bà Đỗ Thị L2, bà Đỗ Thị Diệu L4, bà Võ Thị Bích H2, bà Nguyễn Thị B có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại bà Hồ Thị Kim D, ông Trương P1, bà Trần Kim H6, ông Mông Thế Đ; Người liên quan anh Vũ Duy Đ1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Hữu Bình |
11
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Bình
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi
- Ông Đỗ Văn Kha
Căn cứ vào Điều 259 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Vào lúc 10 giờ 20 phút ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành thảo luận, nghị án đối với vụ án hình sự thụ lý số: 34/2021/HSST ngày 17 tháng 3 năm 2021.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án và thống nhất biểu quyết: Đồng ý 3/3 từng vấn đề như sau:
- Về tội danh :
Tuyên bố bị cáo Tạ Văn Tiến, Nguyễn Trung Nam (tên gọi khác: Tý) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt :
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Tạ Văn Tiến, Nguyễn Trung Nam 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2022.
- Về vật chứng của vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên trả lại cho bị cáo Tạ Văn Tiến, Nguyễn Trung Nam 01 điện thoại di động hiệu OPPO A53 đã cũ không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng máy bên trong.
( Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002015; Quyển số 0041; Ký hiệu D47/2017 ngày 20 tháng 8 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài ).
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên buộc bị cáo Tạ Văn Tiến, Nguyễn Trung Nam phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
Biên bản nghị án kết thúc lúc 10 giờ 40 phút cùng ngày, các thành viên Hội đồng xét xử đã xem lại biên bản và thống nhất ký tên.
|
CÁC HỘI THẨM |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
13
Bản án số 140/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về cướp giật tài sản
- Số bản án: 140/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội cướp giật tài sản
