Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 140/2024/DS-ST

Ngày: 26 - 7 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Liên và ông Lê Văn Tập

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Y Kăn Niê – Thư ký Tòa án thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm Linh - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 342/2024/TLST-DS ngày 09/5/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXX-DS ngày 21/6/2024, giữa:

Nguyên đơn: Ông Đặng Ngọc S, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số E T, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

Bị đơn: Bà Trần Thị Hương G, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Phòng A, dãy Kiốt chợ D, khối A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Đặng Ngọc S trình bày:

Giữa tôi (Đặng Ngọc S) và bà Trần Thị Hương G có mối quan hệ quen biết là hàng xóm láng giềng với nhau. Vào ngày 16/01/2023, tôi có cho bà G vay số tiền 30.000.000 đồng, khi vay hai bên có lập hợp đồng cho vay tiền và ký xác nhận với nhau, mục đích vay là bà G trả nợ cho người khác, lãi suất thoả thuận là theo lãi suất quy định của nhà nước là 12%/ năm, thời hạn trả trong vòng 06 tháng (từ 16/01/2023 đến ngày 16/7/2023). Mặc dù, tôi đã nhiều lần liên hệ, gọi điện và đến nhà bà G tại địa chỉ số P, dãy Kiốt sau chợ D, khối A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để yêu cầu bà G thanh toán. Tuy nhiên, bà G nhiều lần hứa hẹn, nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tôi.

Nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tôi, trên cơ sở những nội dung đã trình bày ở trên, tôi kính đề nghị Quý Tòa xem xét và giải quyết các yêu cầu như sau: Buộc bà Trần Thị Hương G phải thanh toán cho tôi số tiền gốc 30.000.000đồng, lãi suất phát sinh từ ngày vay đến khi trả xong nợ với lãi suất 12%/ năm và tiền nộp tạm ứng khởi kiện là 850.000 đồng và tiền chi phí đi lại bao gồm tiền xăng xe, tiền mất ngày công phải đi hỏi các cơ quan ban ngành trước lúc khởi kiện và mất ngày công phải đi khởi kiện với số tiền là 3.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay tôi không yêu cầu bà G phải trả lại tiền nộp tạm ứng khởi kiện là 850.000 đồng mà đề nghị Tòa án giải quyết số tiền này theo quy định của pháp luật.

2. Bị đơn bà Trần Thị Hương G trình bày:

Giữa tôi (Trần Thị Hương G) và ông Đăng Ngọc S1 không có mối quan hệ họ hàng quen biết gì cho đến khi tôi chuyển đến thuê căn hộ gần nhà ông S1.

Vào ngày 16/01/2023, tôi có ký hợp đồng vay của ông S1 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), tuy nhiên thực tế tôi không nhận được số tiền này từ ông S1, ông S1 có nói là góp tiền mở quán chung hết số tiền 30.000.000đồng, tôi nói là không có tiền nên ông S1 nói ông S1 sẽ cho tôi mượn số tiền này và nói tôi có ký vào hợp đồng vay tiền. Sau đó tôi và ông S1 không mở được quán nhưng hiện nay ông S1 khởi kiện tôi số tiền trên thì tôi có ý kiến: Tôi đã đặt bút ký vào giấy vay tiền thì tôi chấp nhận trả số tiền này cho ông Đặng Ngọc S là 30.000.000đồng và tiền lãi suất phát sinh 12%/năm từ ngày vay đến nay.

Còn ông S yêu cầu tôi phải trả số tiền xăng xe, tiền mất ngày công phải đi hỏi các cơ quan ban ngành trước lúc khởi kiện và mất ngày công phải đi khởi kiện tổng cộng với số tiền là 3.000.000 đồng thì tôi không đồng ý. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Đặng Ngọc S: Buộc bà Trần Thị Hương G phải trả số tiền gốc 30.000.000đồng và lãi suất phát sinh.

Bác một phần đơn khởi kiện của của ông Đặng Ngọc S về việc buộc bà Trần Thị Hương G phải trả số tiền xăng xe, tiền mất ngày công phải đi hỏi các cơ quan ban ngành trước lúc khởi kiện và mất ngày công phải đi khởi kiện tổng cộng với số tiền là 3.000.000 đồng; Về án phí, đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn phải trả số tiền đã vay, đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Nội dung khởi kiện:

[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Ngọc S về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Hương G trả số tiền vay gốc 30.000.000đồng và lãi suất, xét thấy:

Ông S và bà G đều thừa nhận rằng: Vào ngày 16/01/2023, ông S có cho bà G vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), thời hạn vay đến ngày 16/7/2023. Tuy nhiên đến nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng bà G chưa trả số tiền trên là vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo Điều 466 Bộ luật dân sự 2015.

Quá trình tham gia tố tụng bà G thừa nhận nợ và chấp nhận trả số tiền trên nên buộc bà G phải trả số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng cho ông S là phù hợp.

Về lãi suất: Các bên có ghi lãi suất trong giấy vay tiền là lãi suất theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa các bên cho rằng thỏa thuận lãi suất 12%/năm. Xét thấy mức lãi suất các bên thỏa thuận là phù hợp với Điều 468 BLDS nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận. Ông S chỉ yêu cầu tính lãi suất 12%/năm từ ngày 16/01/2023 đến ngày xét xử 26/7/2024 là 12%/năm (01%/ tháng) là phù hợp.

Lãi suất được tính như sau: Từ ngày 16/01/2023 đến ngày 26/7/2024 là 557 ngày x 30.000.000đồng x 1%/tháng: 30 ngày = 5.570.000đồng.

Như vậy cần buộc bà Trần Thị Hương G trả cho ông Đặng Ngọc S tổng số tiền là 35.570.000đồng.

[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Ngọc S về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Hương G trả số tiền xăng xe, tiền mất ngày công phải đi hỏi các cơ quan ban ngành trước lúc khởi kiện và mất ngày công phải đi khởi kiện tổng cộng với số tiền là 3.000.000 đồng.

Xét thấy: Ông S không có chứng cứ chứng minh và bà G không chấp nhận trả nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của ông S.

Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Ngọc S. Buộc bà Trần Thị Hương G phải trả cho ông Đặng Ngọc S tổng số tiền 35.570.000đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Bác một phần đơn khởi kiện của của ông Đặng Ngọc S về việc buộc bà Trần Thị Hương G phải trả số tiền xăng xe, tiền mất ngày công phải đi hỏi các cơ quan ban ngành trước lúc khởi kiện và tiền mất ngày công phải đi khởi kiện tổng cộng với số tiền là 3.000.000 đồng.

[3]. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Đặng Ngọc S phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận là 300.000đồng được khấu trừ vào 850.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009910 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. Trả lại cho ông Đặng Ngọc S số tiền tạm ứng còn lại là 550.000đồng.

Bị đơn Trần Thị Hương G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.778.500 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 Điều 266 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Áp dụng các Điều 357, Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 và Điều 470; Bộ luật dân sự 2015.
  • - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Ngọc S. Buộc bà Trần Thị Hương G phải trả cho ông Đặng Ngọc S tổng số tiền là 35.570.000đồng. Trong đó tiền gốc 30.000.000đồng và tiền lãi suất tính đến ngày 26/7/2024 là 5.570.000đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Bác một phần đơn khởi kiện của của ông Đặng Ngọc S về việc buộc bà Trần Thị Hương G phải trả số tiền xăng xe, tiền mất ngày công phải đi hỏi các cơ quan ban ngành trước lúc khởi kiện và tiền mất ngày công phải đi khởi kiện tổng cộng với số tiền là 3.000.000 đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm

    Ông Đặng Ngọc S phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận là 300.000đồng được khấu vào 850.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009910 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. Trả lại cho ông Đặng Ngọc S số tiền tạm ứng còn lại là 550.000đồng.

    Bị đơn bà Trần Thị Hương G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.778.500 đồng.

  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. BMT;
  • - Chi cục THADS TP.BMT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Mai

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 140/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Ngọc Sơn Buộc bà Trần Thị Hương Giang phải trả cho ông Đặng Ngọc Sơn tổng số tiền là 35.570.000đồng. Trong đó tiền gốc 30.000.000đồng và tiền lãi suất tính đến ngày 26/7/2024 là 5.570.000đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. 2. Bác một phần đơn khởi kiện của của ông Đặng Ngọc Sơn về việc buộc bà Trần Thị Hương Giang phải trả số tiền xăng xe, tiền mất ngày công phải đi hỏi các cơ quan ban ngành trước lúc khởi kiện và tiền mất ngày công phải đi khởi kiện tổng cộng với số tiền là 3.000.000 đồng. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm Ông Đặng Ngọc Sơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận là 300.000đồng được khấu vào 850.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009910 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. Trả lại cho ông Đặng Ngọc Sơn số tiền tạm ứng còn lại là 550.000đồng. Bị đơn bà Trần Thị Hương Giang phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.778.500 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger